vanban.org

Bản án 52/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 07/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc N (Ba N) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc N (Ba N) 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/9/2022. Buộc bị cáo Phạm Ngọc N (Ba N) phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự: Phạm Ngọc N - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc N (Ba N) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN NAM
TỈNH NINH THUẬN
__________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2022/HS-ST
Ngày: 07/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM - TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Báu.

Bà Hứa Thị Mây Sum.

- Thư ký phiên tòa: Ông Quảng Đại Phát - Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2022/HSST ngày 26 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 51/2022/ QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

PHẠM NGỌC N (Ba N), sinh ngày 19/3/1989 tại Ninh Thuận. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn LT3, xã PD, huyện TN, tỉnh Ninh Thuận; Nơi ở: thôn VH, xã VT, huyện TP, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình K và bà Nguyễn Thị N1; có vợ và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án: Ngày 27/02/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 23/5/2022; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/5/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 01/8/2008; Ngày 27/9/2010, bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử phạt 24 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 22/01/2012; Ngày 14/9/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm, xử phạt 36 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 20/01/2015; Ngày 31/8/2018, bị Trưởng Công an xã Phước Diêm, huyện Thuận Nam xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa nộp phạt. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/9/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. (Có mặt).

- Bị hại: Ông Kiều Ngọc T, sinh năm 1966

Địa chỉ: thôn VL4, xã PN, huyện TN, tỉnh Ninh Thuận. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 14/9/2022, Phạm Ngọc N một mình điều khiển xe mô tô kiểu dáng Sirius, màu xanh không có biển kiểm soát đi tìm tài sản để trộm cắp. N điều khiển xe từ xã VT, huyện TP, tỉnh Bình Thuận đến đoạn đường liên thôn VL - SH thuộc thôn VL 2, xã PN, huyện TN, tỉnh Ninh Thuận, thấy có công trình nhà ở đang xây dựng, bên trong có điện sáng nên N dừng xe, đi bộ vào công trình tìm tài sản để lấy trộm. Khi vào bên trong công trình, thấy ông Kiều Ngọc T, sinh năm 1966, trú tại thôn Văn Lâm 4, xã Phước Nam, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận đang nằm ngủ, kế bên có 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21s, màn hình cảm ứng, màu xanh bỏ trong quần kaki nên N lén lút lấy trộm điện thoại, bỏ vào túi áo rồi điều khiển xe về hướng xã Cà Ná. Do điều khiển xe mô tô không có biển kiểm soát nên N bị Tổ tuần tra Công an huyện Thuận Nam dừng xe, kiểm tra hành chính trên tuyến đường quốc lộ 1A thuộc thôn Hiếu Thiện, xã Phước Ninh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận. Quá trình làm việc, N đã khai nhận 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21s do trộm cắp mà có nên Tổ công tác đã lập biên bản ghi nhận sự việc, bàn giao người, vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Nam để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Biên bản định giá tài sản số 22/KL-HĐĐG ngày 15/9/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thuận Nam đã kết luận: Giá trị 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21s, màn hình cảm ứng, màu xanh, số IMEI 1: 861128054881732, số IMEI 2: 861128054881724 là 2.467.000 đồng (Hai triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số: 47/CT-VKSTN ngày 26 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc N (Ba N) về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

+ Bị cáo Phạm Ngọc N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam đã truy tố.

+ Bị hại Kiều Ngọc T vắng mặt, đã có đơn xin vắng mặt và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị hại đã nhận lại tài sản là 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21s nên không có yêu cầu bồi thường gì.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 15/9/2022.

Lời nói sau cùng: Tại phiên tòa, bị cáo biết hành vi của mình là sai trái vi phạm pháp luật nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 15/9/2022, tại thôn Văn Lâm 2, xã Phước Nam, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận, Phạm Ngọc N đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu để lén lút trộm cắp tài sản của ông Kiều Ngọc T 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21s, có giá trị 2.467.000 đồng (Hai triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

(Theo Biên bản định giá tài sản số 22/KL-HĐĐG ngày 15/9/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thuận Nam).

Xét thấy, bị cáo Phạm Ngọc N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi nêu trên của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo Phạm Ngọc N (Ba N) về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội trước khi bị phát hiện, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Tự thú”. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Vào ngày 29/5/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 01/8/2008; Ngày 27/9/2010, bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử phạt 24 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 22/01/2012; Ngày 14/9/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm, xử phạt 36 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 20/01/2015; Ngày 31/8/2018, bị Trưởng Công an xã Phước Diêm, huyện Thuận Nam xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa nộp phạt, tuy nhiên bị cáo không coi đây là những bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, nhằm mục đích tiêu xài cá nhân, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là ăn năn hối cải cho bị cáo.

Qua xem xét hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Với tính chất nghiêm trọng của vụ án cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo cũng như răn đe và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Kiều Ngọc T đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Nam đã tiến hành tạm giữ và đã trả lại cho bị hại ông Kiều Ngọc T 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21s, màn hình cảm ứng, màu xanh; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A20s, màn hình cảm ứng, màu đen, không sử dụng cho mục đích phạm tội. Riêng 01 chiếc xe mô tô kiểu dáng Sirius, màu sơn xanh, không có biển kiểm soát, số máy: VLF1P52FMH-3L2SB000350, không kiểm tra được số khung, chưa xác minh chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tách, xác minh xử lý sau là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc N (Ba N) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc N (Ba N) 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/9/2022.

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Ngọc N (Ba N) phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 07/12/2022). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ