- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Bùi Văn T cho UBND xã TY, huyện TC, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĐ TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2022/HS-ST Ngày: 05– 8– 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĐ, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào.
Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Xuân Huế.
2. Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện NĐ, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NĐ, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trường Sơn – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện NĐ, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/QĐXXST-HS ngày tháng năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2022/QĐ-HS ngày 25 tháng 7 năm 2022 đối với:
- Bị cáo: Bùi Văn T. Sinh ngày 08/4/1987 tại huyện TC, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm Quang Đình, xã TY, huyện TC, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Bùi Văn Thọ (đã chết) và bà Nguyễn Thị Nghĩa, sinh năm 1954; vợ: Nguyễn Thị Phương L và có 02 con; tiền sự, tiền án: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2022 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện NĐ. Có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Phương L. Sinh năm 1990. Nơi cư trú: Xóm Hồng Thái, xã NT, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Nguyễn Đình T. Sinh năm 1974. Nơi cư trú: Xóm 2, xã NN, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Chị Bùi Thị Th. Sinh năm 1988. Nơi cư trú: Xóm 4, xã TL, huyện TC, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Chị Ngô Thị Hiền. Sinh năm 1978. Nơi cư trú: Xóm Trung Long, xã TY, huyện TC, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
2. Bà Nguyễn Thị Nghĩa. Sinh năm 1954. Nơi cư trú: Xóm Quang Đình, xã TY, huyện TC, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 15/3/2022, Bùi Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 37E1-139.76 mượn của chị Bùi Thị Th đi đến khu vực chợ Cồn, xã Thanh Dương, huyện TC, tỉnh Nghệ An mua 01 bình gas mini màu đỏ trắng, có gắn thiết bị khò lửa để về sử dụng. Sau khi mua xong, do vẫn còn bức xúc vì những mâu thuẫn với vợ là chị Nguyễn Thị Phương L trong việc con thứ nhất không cùng huyết thống với Thông nên Thông mang theo bình gas rồi điều khiển xe mô tô đến nhà chị Lan đang thuê để bán hàng tại xóm Hồng Thái, xã NT, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Tại đây, Thông dựng xe mô tô ở bên lề đường phía sau nhà trọ rồi cầm bình gas có gắn thiết bị khò lửa đi qua khu đất trống, men theo bờ tường rào đến trước cửa nhà chị Lan đang thuê. Tại khu vực sân trước nhà trọ, Thông phát hiện có nhiều cây rành rành của chị Lan mua về để làm chổi buôn bán nên Thông dùng bình gas có gắn thiết bị khó lửa đốt cháy những cây rành rành này thông qua khe hở của tấm tôn. Sau khi thấy cây rành rành bắt đầu cháy, Thông đi theo đường cũ để ra chỗ để xe mô tô, khi đi qua khu vực đất trống làm rơi một chiếc dép quai da, màu nâu và vứt bình gas có gắn thiết bị khò tại đây. Thông bỏ đi thì đám cháy lan rộng sang cả ngôi nhà làm thiệt hại nhiều tài sản có giá trị. Trên đường về Thông đã vứt chiếc dép còn lại bên lề đường.
Ngày 17/3/2022, biết hành vi của mình là vi phạm Bùi Văn T đã đến Công an huyện NĐ đầu thú.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐG và số 11/KL-HĐĐG ngày 25/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện NĐ, đã kết luận các tài sản bị thiệt hại có tổng giá trị là: 223.708.000 đồng. (chi tiết các tài sản có trong kết luận tại hồ sơ vụ án).
Tại bản Kết luận giám định số 215/KL-KRHS (Đ2-CN) của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An ngày 31/3/2022 kết luận: “Mẫu tro và sản phẩm cháy thu tại nền sân phía trước vị trí góc Đông Bắc tại hiện trường gửi tới giám định không tìm thấy thành phần xăng dầu”.
Tại bản kết luận giám định số 10/KL-DVC ngày 07/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:“Vị trí xuất phát cháy: Ở góc Đông Bắc khu vực sân phía trước nhà ở của gia đình anh Nguyễn Đình T; Nguyên nhân xảy ra vụ cháy: Do tác động của con người”.
Cáo trạng số 51/CT-VKSNĐ ngày 04 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện NĐ truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội “Hủy hoại tài sản”, theo quy định tại khoản 3 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NĐ giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 3 Điều 178; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Bùi Văn T mức án từ 30 đến 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) bình gas mini màu đỏ, trắng gắn dụng cụ khò lửa; 01 (một) đôi dép quai da, màu nâu.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì nên miễn xét;
Bị cáo đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có tranh luận gì. Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị hại trình bày: Về trách nhiệm dân sự tôi không yêu cầu gì. Về hình phạt: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì tôi và bị cáo Thông vẫn đang là vợ chồng hợp pháp, có con chung với nhau.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Thỏa trình bày: Tôi đã nhận lại tài sản là xe mô tô và không có yêu cầu gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện NĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đình T (có đơn xét xử vắng mặt) và người làm chứng. Tuy nhiên, đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án nên không ảnh hưởng đến việc xét xử.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; có đủ căn cứ khẳng định: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 15/3/2022, tại nhà anh Nguyễn Đình T ở xóm Hồng Thái, xã NT, huyện NĐ, tỉnh Nhệ An do chị Nguyễn Thị Lan Phương thuê. Bùi Văn T đã sử dụng 01 (một) bình gas mini màu đỏ trắng, gắn dụng cụ khò lửa đốt cháy những cây rành rành dùng để làm chổi của chị Nguyễn Thị Phương L và làm lan cháy các tài sản của ngôi nhà. Tổng giá trị thiệt hại là 223.708.000 đồng (hai trăm hai mươi ba triệu bảy trăm lẻ tám nghìn). Cáo trạng truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 3 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất vụ án và hình phạt chính áp dụng: Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an trên địa bàn. Do đó cần xử lý nghiêm hành vi của bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo cùng với gia đình tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Sau khi phạm tội bị cáo đến Công an đầu thú. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có bố là ông Bùi Văn Thọ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì, mẹ bị cáo là Nguyễn Thị Nghĩa được cấp giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến. Bị cáo có thời gian tham gia phục vụ nghĩa vụ quân sự trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Hành vi của bị cáo là bột phát, nông nỗi, nguyên nhân bị cáo bức xúc do con chung thừ nhất trong thời kỳ hôn nhân của bị cáo với chị Lan không cùng huyết thống với bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên xét không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ nghiêm minh, không ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo lao động tự do, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại đầy đủ cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không ai có yêu cầu gì thêm. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 37E1-139.76 đăng ký xe mang tên chị Bùi Thị Th. Do không liên quan đến hành vi phạm tội nên Công an huyện NĐ đã trả lại cho chị Thỏa là đúng quy định của pháp luật.
Đối với 01 bình gas mi ni màu đỏ, trắng, gắn dụng cụ khò lửa, bình gas đã qua sử dụng. Vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị cần tịch thu và tiêu hủy.
Đối với 01 (một) đôi dép quai da, màu nâu của bị cáo Thông. Tại phiên tòa bị cáo đề nghị tiêu hủy.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Các đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 3 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Hủy hoại tài sản”. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 03 (ba) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Bùi Văn T cho UBND xã TY, huyện TC, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Quyết định trả tự cho cho bị cáo Bùi Văn T tại phiên tòa.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu và tiêu hủy:
01 bình gas mi ni màu đỏ, trắng, gắn dụng cụ khò lửa, bình gas đã qua sử dụng; 01 đôi dép quai da, màu nâu, dép đã qua sử dụng.
(Đặc điểm, tình trạng các vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18 tháng 7 năm 2022 giữa Công an huyện NĐ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện NĐ).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Bùi Văn T chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kề từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - VKSND huyện NĐ; - Chi cục THADS huyện NĐ; - Công an huyện NĐ; - Bị cáo, bị hại, người CNLNVLQ; - UBND xã TY – TC; - Lưu HSVA. VPTA. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Xuân Huế Nguyễn Thị Thu Hiền | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Vương Hoàng Hào THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Hoàng Hào |