vanban.org

Bản án 52/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 27/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Trần Đình T (Tý) phạm tội “Trôm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Đình T (Tý) 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 13-3-2022. 2/ Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HINH SU - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Trần Đình T (Tý) phạm tội “Trôm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ DẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2022/HS-ST
Ngày 27-5-2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hoài Dinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Anh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Trần Thành Danh – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2022/HSST ngày 13 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Đình T (Tý), sinh năm 1989 tại Thành phố HCM; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp PB, xã AP, huyện CC, Thành phố HCM; Nghề nghiệp: không có; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn B, sinh năm 1964 và bà Châu Thị H, sinh năm 1965; Vợ, con: chưa có; Tiền sự, tiền án: không có; Nhân thân: Ngày 31-01-2008, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố HCM áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn 24 tháng. Năm 2017, bị Tòa án nhân dân huyện CC, Thành phố HCM áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, sau đó được giảm thời hạn chấp hành, đến ngày 01-11-2018 thì chấp hành xong; Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 13-3-2022 đến ngày 22-3-2022 bị tạm giam cho đến nay. Có mặt.

Bị hại: Bà Đỗ Thị Hồng T1, sinh năm 1977. Vắng mặt.

Địa chỉ: ấp SC B, xã PD, huyện GD, tỉnh TN.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1988. Vắng mặt.

Địa chỉ: ấp PB, xã AP, huyện CC, Thành phố HCM.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng, khoảng 14 giờ ngày 13-3-2022, Trần Đình T mượn xe mô tô biển số: 59M1-658.17 của anh Nguyễn Hoàng P đem về nhà gắn biển số giả 51Y2-0899 rồi điều khiển xe mô tô này mang theo kìm, tua vít và cưa bằng kim loại đến khu vực xã PD, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh kiếm tài sản để trộm. Khi đến trước nhà bà Đỗ Thị Hồng T1 thuộc ấp SC B, xã PD, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, phát hiện cửa nhà bà T1 mở và không có người trông coi nên T lén lút vào lấy 01 tivi hiệu Sony, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J3 pro và 01 điều khiển tivi chạy đi thì bị phát hiện bắt quả tang.

Bản kết luận định giá tài sản số 29 ngày 17-3-2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Gò Dầu kết luận: 01 tivi hiệu Sony, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J3 pro và 01 điều khiển tivi, có tổng trị giá 4.320.000 đồng.

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, số loại Viva, màu sơn xanh, gắn biển số 51Y2- 0899, số khung: BE42D-VN122908, số máy: E412-VN122908, dung tích xi lanh 109 cm3, đã qua sử dụng và không có dàn áo xe; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J8, màu vàng đồng, đã qua sử dụng, có vết nứt màn hình; 01 mủ bảo hiểm màu sơn bạc, phía sau có chữ “Honda Long Ngân” đã qua sử dụng; 01 lưỡi cưa bằng kim loại dài 30 cm, một đầu được quấn băng keo đen; 01 cây kìm mũi kẹp bằng kim loại màu bạc, bên trên có chữ “USA Standard”; 01 tua vít bằng kim loại màu bạc, có tay cầm bằng nhựa màu xanh đen, trên tay cầm có chữ “SATA”; 01 túi xách bằng vải màu đen; 01 biển số xe máy màu trắng 59M1-658-17, tất cả đã chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu tạm giữ chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bà T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Về kê biên tài sản: Do bị cáo T không có sở hữu tài sản nên Cơ quan điều tra không kê biên.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 08/QĐ-VKSGD ngày 13-5-2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu đã truy tố bị cáo Trần Đình T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Quyết định đã truy tố.

Trong quá trình điều tra, bị hại – bà Đỗ Thị Hồng T1 trình bày: Bà đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất trộm, bà không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại. Về trách nhiệm hình sự bà yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.

Trong quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Nguyễn Hoàng P trình bày: Ngày 13-3-2022 anh có cho bị cáo T mượn xe mô tô biển số: 59M1-658.17, anh không biết bị cáo T sử dụng xe của anh vào việc trộm cắp tài sản, nay anh yêu cầu được nhận lại xe mô tô này.

Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì không có tài sản. Đồng thời áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: trả lại cho anh P 01 xe mô tô và 01 biển số 59M1-658.17; trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J8; tịch thu tiêu hủy 01 biển số 51Y2- 0899, 01 mủ bảo hiểm, 01 lưỡi cưa, 01 cây kìm, 01 tua vít, 01 túi xách bằng vải. Ghi nhận bà T1 đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải, xin Thẩm phán chủ tọa phiên tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Gò Dầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Khoảng 14 giờ ngày 13-3-2022, tại ấp SC B, xã PD, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, Trần Đình T đã lén lút chiếm đoạt 01 tivi hiệu Sony, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J3 pro và 01 điều khiển tivi, tổng trị giá 4.320.000 đồng của bà Đỗ Thị Hồng T1 thì bị phát hiện.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với lời trình bày của những người tham gia tố tụng khác, vật chứng được thu giữ. Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

Vụ án này mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo do muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ công lao động cực khổ, nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, khi quyết định hình phạt cần áp dụng đối với bị cáo một mức án nghiêm mới có đủ thời gian giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án như sau:

- Tình tiết tăng nặng: không có.

- Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng.

Đối với đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu thấy rằng, mức hình phạt đề nghị áp dụng cho bị cáo là nặng so với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo. Riêng các đề nghị khác xét thấy có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

Về bồi thường thiệt hại: Bà T1 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên cần ghi nhận.

Về xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, số loại Viva, màu sơn xanh, số khung: BE42D-VN122908, số máy: E412-VN122908, dung tích xi lanh 109 cm3, đã qua sử dụng và không có dàn áo xe và 01 biển số xe máy màu trắng 59M1-658.17 bị cáo mượn của anh Nguyễn Hoàng P, anh P không biết bị cáo dùng xe của mình vào việc phạm tội, nên cần trả lại cho anh P.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J8, màu vàng đồng, đã qua sử dụng, có vết nứt màn hình là của bị cáo T, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo T.

- 01 biển số 51Y2- 0899; 01 mủ bảo hiểm màu sơn bạc, phía sau có chữ “Honda Long Ngân” đã qua sử dụng; 01 lưỡi cưa bằng kim loại dài 30 cm, một đầu được quấn băng keo đen; 01 cây kìm mũi kẹp bằng kim loại màu bạc, bên trên có chữ “USA Standard”; 01 tua vít bằng kim loại màu bạc, có tay cầm bằng nhựa màu xanh đen, trên tay cầm có chữ “SATA”; 01 túi xách bằng vải màu đen bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Do Chủ tọa phiên tòa kết luận bị cáo có tội. Nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố bị cáo Trần Đình T (Tý) phạm tội “Trôm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Đình T (Tý) 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 13-3-2022.

2/ Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Ghi nhận bà Đỗ Thị Hồng T1 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo Trần Đình T (Tý) phải bồi thường thiệt hại.

Tuyên trả lại cho anh Nguyễn Hoàng P: 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, số loại Viva, màu sơn xanh, số khung: BE42D-VN122908, số máy: E412-VN122908, dung tích xi lanh 109 cm3, đã qua sử dụng và không có dàn áo xe và 01 biển số xe máy màu trắng 59M1-658.17.

Tuyên trả lại cho bị cáo Trần Đình T (Tý): 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J8, màu vàng đồng, đã qua sử dụng, có vết nứt màn hình.

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 biển số 51Y2- 0899; 01 mủ bảo hiểm màu sơn bạc, phía sau có chữ “Honda Long Ngân” đã qua sử dụng; 01 lưỡi cưa bằng kim loại dài 30 cm, một đầu được quấn băng keo đen; 01 cây kìm mũi kẹp bằng kim loại màu bạc, bên trên có chữ “USA Standard”; 01 tua vít bằng kim loại màu bạc, có tay cầm bằng nhựa màu xanh đen, trên tay cầm có chữ “SATA”; 01 túi xách bằng vải màu đen.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 5 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Dầu)

3/ Án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Trần Đình T (Tý) phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4/ Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bà Đỗ Thị Hồng T1 và anh Nguyễn Hoàng P vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ