- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Quốc B Điều 191 BLHS - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Quốc B phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 52/2022/HS-ST Ngày: 13 - 6 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Chí Lin
Ông La Văn Việt
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Lương Quốc B, sinh năm 1999, tại Long An;
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp 6, xã T, huyện H, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn B (đã chết) và bà Lê Thị G; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27 tháng 12 năm 2021 đến nay (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Trần Khánh T, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số 55 đường số 16, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
2/ Công ty TNHH Thương Mại Vận Tải và Du lịch Khánh T. (vắng mặt)
Địa chỉ: Địa chỉ: Số 55 đường số 16, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Khánh T – Giám đốc
- Người làm chứng:
1/ Nguyễn Văn N, sinh năm 1952. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An. (vắng mặt)
2/ Trần Gia N, sinh năm 2002. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ ngày 27/12/2021, bị cáo Lương Quốc B gặp một người đàn ông tên Đ, không rõ nhân thân lai lịch ở khu vực xã T, huyện H, tỉnh Long An, Đ thuê bị cáo B vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu từ khu vực Chân Tốc, thuộc ấp 3, xã T, huyện H, tỉnh Long An đi tiêu thụ tại khu vực bến xe An Sương, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, tiền công vận chuyển mỗi chuyến là 1.000.000 đồng, bị cáo B đồng ý. Đồng thời, Đ giao cho bị cáo B xe ô tô tải biển số 51H-940.39 để làm phương tiện vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu. Khoảng 12 giờ ngày 27/12/2021, bị cáo B gặp Đ tại khu vực gần xã T, huyện H, tỉnh Long An, Đ kêu bị cáo B điều khiển xe ô tô biển số 51H-940.39 đến bãi đất trống thuộc xã T, huyện H, tỉnh Long An để nhận thuốc lá điếu nhập lậu. Tại đây, có 04 người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch điều khiển các xe mô tô không xác định biển số đến giao 6000 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Jet và 3000 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero, đồng thời chất toàn bộ số thuốc lá điếu nhập lậu trên vào xe ô tô biển số 51H-940.39 cho bị cáo B. Sau khi nhận thuốc lá điếu nhập lậu, bị cáo B điều khiển xe ô tô biển số 51H-940.39 vận chuyển số thuốc lá đến khu vực bến xe An Sương, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh để tiêu thụ. Khi đi đến đoạn đường tỉnh lộ 830 thuộc ấp Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An thì bị Công an huyện Đức Hòa, tỉnh Long An bắt quả tang tạm giữ người và vật chứng vụ án.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe ô tô tải biển số 51H-940.39 nhãn hiệu HUYNDAI ELANTRA, màu Đ, số máy G4FGLU218163, số khung RLUFC41CBMN023623; 01 giấy chứng nhận đăng kiểm xe ô tô tải biển số 51H-940.39; 9.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại, trong đó: 3.000 bao thuốc lá điếu hiệu Hero, 6.000 bao thuốc lá điếu hiệu Jet.
Ngoài ra, bị cáo B còn tự khai nhận, với phương thức tương tự, bị cáo B đã nhận vận chuyển thuê thuốc lá điếu nhập lậu cho người tên Đ trót lọt 02 lần cùng vào ngày 27/12/2021; cụ thể, lần thứ nhất, vận chuyển 3.000 bao thuốc lá điếu hiệu Jet, 2.000 bao thuốc lá điếu hiệu Hero; lần thứ hai, vận chuyển 4.000 bao thuốc lá điếu hiệu Jet, 2.000 bao thuốc lá điếu hiệu Hero. Bị cáo B chưa nhận tiền công từ hai lần vận chuyển này.
Tại Công văn số 186/CV-2021 HLHTLVN ngày 30/12/2021 của Hiệp hội thuốc lá Việt Nam kết luận: “02 mẫu cây thuốc lá điếu có các nhãn hiệu Hero và Jet do Cơ quan công an huyện Đức Hoà, tỉnh Long An cung cấp là thuốc lá điếu nhập lậu”.
Tại phiên tòa, bị cáo Lương Quốc B hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKSĐH ngày 19 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lương Quốc B về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191; điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo Lương Quốc B phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”, xử phạt bị cáo Lương Quốc B mức hình phạt từ 6 năm tù đến 7 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2021; đề nghị áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tiếp tục tạm giam bị cáo Lương Quốc B 45 ngày sau khi tuyên án để đảm B thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Đối với xe ô tô tải biển số 51H-940.39 nhãn hiệu HUYNDAI ELANTRA, màu Đ, số máy G4FGLU218163, số khung RLUFC41CBMN023623; 01 giấy chứng nhận đăng kiểm xe ô tô tải biển số 51H-940.39: do ông Trần Khánh T đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe – là Giám đốc Công ty TNHH TM Vận tải và Du lịch Khánh T. Ngày 25/12/2021, Công ty TNHH TM Vận tải và Du lịch Khánh T ký hợp đồng cho ông Lê Văn T thuê từ ngày 25/12/2021 đến hết ngày 28/12/2021. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối với ông Lê Văn T nhưng không có người tên Lê Văn T cư trú tại địa chỉ thể hiện trên hợp đồng thuê. Ông Trần Khánh T và Công ty TNHH TM Vận tải và Du lịch Khánh T không biết xe dùng vào việc phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô và giấy chứng nhận đăng kiểm xe cho ông Trần Khánh T (do ông Nguyễn Hồng H đại diện theo ủy quyền) theo biên bản trả lại đồ vật, tài liệu ngày 29/01/2022 nên đề nghị không đề cập, xem xét.
+ Đối với 9.000 bao (gói) thuốc lá điếu ngoại nhập lậu (trong đó gồm 3.000 bao (gói) thuốc lá điếu hiệu Hero; 6.000 bao (gói) thuốc lá điếu hiệu Jet): đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Khánh T và Công ty TNHH TM Vận tải và Du lịch Khánh T sau khi nhận lại xe ô tô biển số 51H-940.39 không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên đề nghị không xem xét.
Đối với người nam thanh niên tên Đ không rõ nhân thân lai lịch có hành vi thuê bị cáo B vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu và những người không rõ họ tên, địa chỉ có hành vi giao thuốc lá điếu nhập lậu cho bị cáo B tại khu vực ấp 3, xã T, huyện H, tỉnh Long An. Do không xác định được nhân thân lai lịch của những người này và chỉ có lời khai nhận duy nhất của bị cáo B nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
Đối với ông Lê Văn T có hành vi thuê xe ô tô tải biển số 51H-940.39 mà bị cáo B dùng để vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu; Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của Tuấn nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
Đối với ông Trần Khánh T, Công ty TNHH TM Vận tải và Du lịch Khánh T, có hành vi cho Lê Văn T thuê xe ô tô tải biển số 51H-940.39 và không biết bị cáo B sử dụng xe ô tô này làm phương tiện thực hiện tội phạm nên hành vi của ông Trần Khánh T, Công ty TNHH TM Vận tải và Du lịch Khánh T không cấu thành tội phạm có liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
. Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo Lương Quốc B tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang vào lúc 13 giờ 00 phút ngày 27/12/2021, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, kết luận tại công văn số 186/CV-2021 HHTLVN ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Hiệp hội thuốc lá Việt Nam và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Vào khoảng 13 giờ ngày 27 tháng 12 năm 2021, bị cáo Lương Quốc B đã có hành vi điều khiển xe ô tô tải biển số 51H-940.39 vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu thuê cho người nam thanh niên tên Đ không rõ nhân thân lai lịch tổng cộng 9.000 bao (gói) thuốc lá điếu nhập lậu các loại, từ huyện H, tỉnh Long An đến khu vực Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tiêu thụ, với giá tiền công vận chuyển là 1.000.000 đồng; nhưng khi đi đến khu vực ấp Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An thì bị Công an huyện Đức Hòa, tỉnh Long An phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra, bị cáo Lương Quốc B tự khai nhận, cùng ngày 27/12/2021 bị cáo B đã vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu cho Đ trót lọt 02 lần, bị cáo B chưa thu lợi bất chính.
Hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội và việc quản lý kinh tế tại địa phương.
Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của bị cáo gây ra là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
Hành vi của bị cáo Lương Quốc B đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lương Quốc B theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Hành vi trái pháp luật của bị cáo cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự; do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lương Quốc B phạm tội với tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Lương Quốc B thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, ăn năn hối cải; bị cáo B tự thú lần phạm tội trước đó. Do đó, xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) cho bị cáo.
. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo Lương Quốc B là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Đối với xe ô tô tải biển số 51H-940.39 nhãn hiệu HUYNDAI ELANTRA, màu Đ, số máy G4FGLU218163, số khung RLUFC41CBMN023623; 01 giấy chứng nhận đăng kiểm xe ô tô tải biển số 51H-940.39: do ông Trần Khánh T đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe – là Giám đốc Công ty TNHH TM Vận tải và Du lịch Khánh T. Ngày 25/12/2021, Công ty TNHH TM Vận tải và Du lịch Khánh T ký hợp đồng cho ông Lê Văn T thuê từ ngày 25/12/2021 đến hết ngày 28/12/2021. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối với ông Lê Văn T nhưng không có người tên Lê Văn T cư trú tại địa chỉ thể hiện trên hợp đồng thuê. Ông Trần Khánh T và Công ty TNHH TM Vận tải và Du lịch Khánh T không biết xe dùng vào việc phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô và giấy chứng nhận đăng kiểm xe cho ông Trần Khánh T (do ông Nguyễn Hồng H đại diện theo ủy quyền) theo biên bản trả lại đồ vật, tài liệu ngày 29/01/2022 nên không đề cập, xem xét.
+ Đối với 9.000 bao (gói) thuốc lá điếu ngoại nhập lậu (trong đó gồm 3.000 bao (gói) thuốc lá điếu hiệu Hero; 6.000 bao (gói) thuốc lá điếu hiệu Jet) là hàng cấm nên tịch thu tiêu hủy.
. Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Khánh T và Công ty TNHH TM Vận tải và Du lịch Khánh T sau khi nhận lại xe ô tô biển số 51H-940.39 không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không xem xét. Ngoài ra, bị cáo chưa thu lợi bất chính trong vụ án nên không xem xét.
. Đối với người nam thanh niên tên Đ không rõ nhân thân lai lịch có hành vi thuê bị cáo B vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu và những người không rõ họ tên, địa chỉ có hành vi giao thuốc lá điếu nhập lậu cho bị cáo B tại khu vực ấp 3, xã T, huyện H, tỉnh Long An. Do không xác định được nhân thân lai lịch của những người này và chỉ có lời khai nhận duy nhất của bị cáo B, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau là phù hợp nên không đề cập, xem xét.
Đối với ông Lê Văn T có hành vi thuê xe ô tô tải biển số 51H-940.39 mà bị cáo B dùng để vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu; Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của Tuấn, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau là phù hợp nên không đề cập, xem xét.
Đối với ông Trần Khánh T, Công ty TNHH TM Vận tải và Du lịch Khánh T, có hành vi cho Lê Văn T thuê xe ô tô tải biển số 51H-940.39 và không biết bị cáo B sử dụng xe ô tô này làm phương tiện thực hiện tội phạm nên hành vi của Công ty TNHH TM Vận tải và Du lịch Khánh T không cấu thành tội phạm có liên quan nên không đề cập, xem xét.
. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lương Quốc B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lương Quốc B phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191; điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Lương Quốc B 6 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2021.
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Lương Quốc B 45 ngày sau khi tuyên án để đảm B cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;:
+ Tịch thu tiêu hủy 9.000 bao (gói) thuốc lá điếu ngoại nhập lậu (trong đó gồm 3.000 bao (gói) thuốc lá điếu hiệu Hero; 6.000 bao (gói) thuốc lá điếu hiệu Jet).
Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 69-20/5/2022 ngày 20 tháng 5 năm 2022.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Lương Quốc B nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
4. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Hòa; - Công an huyện Đức Hòa; - Chi cục Thi hánh án dân sự huyện Đức Hòa; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Kim Thảnh |