vanban.org

Bản án 52/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai Tuyên án 30/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Bàn Duy V cho UBND xã Sơn Hải, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản á…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bàn Duy Việt - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Bàn Duy V cho UBND xã Sơn Hải, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO THẮNG
TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 52/2022/HS-ST
Ngày 30 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lìn Thị Lài.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Huệ

2. Ông Phạm Tuấn Thịnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thanh Tuyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Đỗ Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 30/12/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 50/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Bàn Duy V, sinh ngày 07/3/2006, tại huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai;

Nơi cư trú: Thôn Làng Chưng, xã Sơn Hải, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa 10/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ Bàn Văn Thanh, sinh năm: 1985 Mẹ đẻ: Trương Thị Văn, sinh năm 1988, cùng trú tại thôn Làng Chưng, xã Sơn Hải, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Tiền án; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/9/2022, đến ngày 14/11/2022 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh - Có mặt.

Đại diện hợp pháp của bị cáo: Anh Bàn Văn Thanh, sinh năm 1985 và chị Trương Thị Văn, sinh năm 1988 - Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Thị Hoa Huỳnh - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai - Có mặt.

Bị hại: Anh Nguyễn Thế Anh, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn Soi Chát, xã Sơn Hải, huyện Bảo Thắng, Lào Cai - (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng đầu tháng 7 năm 2022, Bàn Duy V đặt mua 01 điện thoại di động có kiểu dánh giống điện thoại Iphon 13 Promax, màu xanh dương với giá 2.850.000đồng trên ứng dụng xã hội Youtube. Việt lấy tên đặt hàng là Bùi Đức Anh (là tên Việt tự nghĩ ra) địa chỉ nhận hàng thôn Làng Chưng, xã Sơn Hải, huyện Bảo Thắng, số điện thoại người nhận là 0348.194. 656 (sim điện thoại này Việt nhặt được từ tháng 6 năm 2022 ở ký túc xá trường Cao đẳng Lào Cai). Ngày 13/7/2022, anh Nguyễn Thế Anh, sinh năm 1994 là nhân viên giao hàng của Công ty Cổ phần giao hàng tiết kiệm (kho hàng huyện Bảo Thắng) gọi điện thoại cho Việt qua số điện thoại 0348. 194. 565 để giao hàng thì Việt hẹn anh Nguyễn Thế Anh chiều ngày hôm sau nhận hàng. Lúc này do bản thân không có tiền để thanh toán nhưng vẫn muốn có điện thoại để sử dụng nên Việt nảy sinh ý định khi nhân viên giao hàng đưa điện thoại cho Việt kiểm tra, Việt xẽ cầm lấy điện thoại nhanh chóng tẩu thoát. Khảng 16 giờ ngày 15/7/2022 anh Nguyễn Thế Anh gọi điện thoại cho Việt để giao hàng, Việt hẹn nhận hàng ở gầm cầu chui đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai thuộc thôn An Tiến, xã Sơn Hải, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Sau đó Việt đi bộ từ nhà đến địa điểm đã hẹn và đứng đợi anh Nguyễn Thế Anh. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày anh Nguyễn Thế Anh đi xe máy đến đứng ở lề đường bên phải hướng quốc lộ 4E đi thôn Làng Chưng, cách gầm cầu chui đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai khoảng 30m rồi gọi điện thoại cho Việt. Việt nghe máy bảo anh Thế Anh đứng đợi rồi Việt đi bộ đến gần vị trí anh Thế Anh và hỏi anh Thế Anh "có được kiểm tra hàng không", anh Thế Anh trả lời "có" rồi rạch gói hàng, mở hộp điện thoại và đưa chiếc điện thoại cho Việt. Việt kiểm tra rồi nói "Đây không phải là Iphone", anh Thế Anh đáp" nếu không lấy thì gói lại trả cửa hàng" và lấy lại chiếc điện thoại từ tay Việt. Thấy vậy Việt nói "Anh đưa cho em xem lại" anh Thế Anh vừa đưa chiếc điện thoại cho Việt thì Việt cầm lấy chiếc điện thoại nhanh chóng bỏ chạy ngược về hướng gầm cầu chui cao tốc rồi chạy vào vườn nghô bên lề đường, anh Thế Anh đuổi theo Việt nhưng không đuổi kịp. Sau khi chiếm đoạt được chiếc điện thoại của anh Nguyễn Thế Anh, Việt đã sử dụng chiếc điện thoại cướp giật được đến ngày 16/9/2022 thì bị cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Thắng triệu tập đến làm việc, tại cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Thắng Việt đã tự giác giao nộp chiếc điện thoại và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐGTS, ngày 13/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Bảo Thắng, kết luận: 01 chiếc điện thoại kiểu dáng Iphone 13, vỏ màu xanh, trị giá 2.800.000đồng.

Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKSBT ngày 28/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, truy tố bị cáo Bàn Duy V về tội “Cướp giật tài sản” theo Khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bàn Duy V phạm tội: "Cướp giật tài sản". Áp dụng Khoản 1 Điều 171; Điểm b, h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91, 101; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bàn Duy V từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là vị thành niên, hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên không đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo:

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thế Anh đã hoàn trả cho Công ty trị giá đơn hàng là 2.850.000đồng và 600.000đồng tiền phạt; trong quá tình giải quyết vụ án gia đình bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Thế anh tổng số tiền là 3.450.000đồng, nay anh Thế Anh không có yêu cầu gì đối với bị cáo, vì vậy không đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải bồi thường.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên trả lại cho bị hại Nguyễn Thế Anh 01 chiếc điện thoại kiểu dáng Iphone 13 Promax, không rõ nhãn hiệu, vỏ máy có màu xanh dương, số IMEI: 355209290363652, máy không lắp sim. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo và bị hại theo quy định.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo, bà Phạm Thị Hoa Huỳnh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 171; Điểm b, h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 90; 91; 101; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bàn Duy V 01 năm tù, cho hưởng án treo, về tội "Cướp giật tài sản".

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo đã tác động với gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại tổng số tiền 3.450.000đồng, người bị hại không có đề nghị gì đối với bị cáo, vì vậy không đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải bồi thường.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS và Khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại kiểu dáng Iphone 13 Promax, không rõ nhãn hiệu, vỏ máy có màu xanh dương, số IMEI: 355209290363652, máy không lắp sim. Ngoài ra người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo và bị hại theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bàn Duy V khai nhận ngày 15/7/2022 đã thực hiện hành vi cướp giật chiếc điện thoại của anh Nguyễn Thế Anh có giá trị 2.800.000đồng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu khác đã có trong hồ sơ. Như vậy khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng truy tố bị cáo Bàn Duy V ra trước toà về tội: "Cướp giật tài sản" theo Khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo Bàn Duy V là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết nhất định về pháp luật. Bị cáo nhận thức được hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có điện thoại để sử dụng nên bị cáo đã thực hiện hành vi cướp giật chiếc điện thoại của anh Nguyễn Thế Anh có giá trị 2.800.000đồng. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo được 16 năm 04 tháng 08 ngày tuổi. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Tuy nhiên trước khi phạm tội bị cáo đang là học sinh và là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật có phần nào còn hạn chế, vì vậy HĐXX cũng cần xem xét khi lượng hình không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[2]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tác động với gia đình tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại số tiền 3.450.000đồng, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy Hội đồng xét xử cũng cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm b, h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với anh Bàn Văn Thanh và chị Trương Thị Văn là bố mẹ đẻ của bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra bị cáo đã tác động với gia đình để bồi thường cho bị hại Nguyễn Thế Anh tổng số tiền 3.450.000đồng, nay anh Thanh, chị Văn không đề nghị bị cáo phải hoàn trả số tiền trên, vì vậy HĐXX không đề cập giải quyết.

Đối với đôi dép cơ quan điều tra thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường vụ án xác định của bị cáo Bàn Duy V không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Thắng đã ra quyết định xử lý vật chứng số 25 ngày 01/10/2022 trả lại đôi dép trên cho bị cáo Bàn Duy V, người đại diện hợp pháp của bị cáo chị Trương Thị Văn đã nhận thay bị cáo, vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết. Đối với sim điện thoại số thuê bao 0348. 194. 565 và chiếc điện thoại Op po A15 do bị cáo Bàn Duy V dùng để đặt hàng và liên lạc với Nguyễn Thế Anh để nhận hàng, bị cáo khai đã đánh roi trên đường đi học vào ngày 19/7/2022, Cơ quan điều tra không thu hồi được nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[3] Về các vấn đề khác trong vụ án: Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thế Anh đã được gia đình bị cáo bồi thường tổng số tiền là 3.450.000đồng, nay anh Nguyễn Thế Anh không có yêu cầu gì đối với bị cáo, vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là vị thành niên và không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 01 chiếc điện thoại kiểu dáng Iphone 13 Promax, không rõ nhãn hiệu, vỏ máy có màu xanh dương, số IMEI: 355209290363652, máy không lắp sim. Quá trình điều tra xác định là tài sản của bị hại Nguyễn Thế Anh; quá trình điều tra bị cáo đã tác động với gia đình bồi thường trị giá chiếc điện thoại cho anh Nguyễn Thế Anh, vì vậy HĐXX cần tuyên trả cho bị cáo chiếc điện thoại là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Buộc bị cáo Bàn Duy V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[4] Về đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo, bị cáo.

Về đề nghị của Kiểm sát viên: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định của pháp luật tuyên phạt bị cáo Bàn Duy V từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo về tội "Cướp giật tài sản".

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Bàn Duy V 01 năm tù cho hưởng án treo về tội "Cướp giật tài sản".

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Xét thấy điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 171; Điểm b, h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Bàn Duy V phạm tội "Cướp giật tài sản"; xử phạt bị cáo Bàn Duy V 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Bàn Duy V cho UBND xã Sơn Hải, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo;

Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 BLTTHS. Tuyên trả lại cho bị cáo Bàn Duy V 01 chiếc điện thoại kiểu dáng Iphone 13 Promax, không rõ nhãn hiệu, vỏ máy có màu xanh dương, số IMEI: 355209290363652, máy không lắp sim.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Bàn Duy V phải chịu 200.000đồng tiền án phí HSST.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo; người bào chữa cho bị cáo, vắng mặt bị hại. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo; người bảo chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ