vanban.org

Bản án 52/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/04/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/04/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2022/HS-PT
Ngày 29-3-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài.

Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Lộc.

Ông Lê Quân Vương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2022, t i Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 281/2021/TLPT-HS ngày 28 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 143/2021/HS-ST ngày 26 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1990 t i tỉnh Hà Nam; nơi thường trú: xóm 3, thôn Th, xã Y, huyện D, tỉnh Hà Nam; nơi t m trú: tổ 12, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị Th; có vợ là bà Nguyễn Thị Nh và 04 con; tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.

Ngoài ra vụ án còn có 01 bị h i không có kháng cáo, không có kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T, Thái Văn Ng, Nguyễn Đăng Th, Nguyễn Văn H, Nguyễn M nh T, Đoàn Xuân Kh có mối quan hệ là b n với nhau. Tất cả đều là công nhân làm chung công trình xây dựng và sống cùng nhau t i khu nhà trọ Bồ Văn U, thuộc khu phố 1, phường V, thị xã T, tỉnh Bình Dương.

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 12/8/2020, sau khi đi làm về, T1 cùng với H, Th, Kh, T2 tổ chức uống rượu t i phòng trọ, còn Nguyên không uống rượu mà ngồi bên c nh bấm điện tho i. Đến khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, T2 không uống rượu nữa nên đi lên gác của phòng trọ để nằm nhưng T1 không đồng ý và đi theo lên gác kêu T2 xuống để tiếp tục uống rượu. Khi lên gác T1 liền dùng tay cầm lấy điện tho i di động của T2 cất vào túi quần của mình rồi nói nếu T2 không xuống uống rượu thì sẽ ném điện tho i của T2 ra ngoài đường, T2 sợ T1 sẽ ném điện tho i của mình nên liền đi xuống và tiếp tục ngồi uống rượu. Khoảng 10 phút sau, do đã say nên T2 không thể uống được nữa và xin nghỉ thì T1 nói với T2 uống nốt ly rượu này rồi mấy anh em nghỉ đi uống cà phê, nếu không sẽ ném điện tho i di dộng của T2 ra ngoài đường. Cùng lúc này, Ng ngồi bên c nh nghe nên nói với T2 “anh T2 không uống được nữa thì ngưng đi, còn ai ném điện tho i của anh ra đường thì phải mua l i đền cho anh thôi”. Khi nghe Ng nói như vậy thì T1 cho rằng Ng thách thức mình nên T1 đã dùng tay rút chiếc điện tho i di động iPhone 7 Plus của Ng đang cắm s c pin nằm c nh vị trí T1 ngồi ra khỏi dây s c, T1 đưa điện tho i lên rồi ném m nh xuống nền g ch của phòng trọ làm điện tho i bị bể và hư hỏng hoàn toàn. Thấy điện tho i của mình bị T1 ném làm hư hỏng nên Ng đã trình báo sự việc đến Công an phường V. Sau khi làm hỏng điện tho i của Ng, T1 nghĩ rằng Ng kêu người đến đánh mình nên đi ra chợ mua 02 con dao mang về phòng trọ, khi về đến phòng trọ thấy Ng đang đi ở ngoài đường thì T1 cầm dao đuổi theo để hù dọa Ng nhưng được mọi người xung quanh can ngăn.

Công an phường V sau khi tiếp nhận tin báo đã tiến hành triệu tập Nguyễn Văn T để làm việc, đồng thời lập hồ sơ và thu giữ vật chứng của vụ án gồm: 01 điện tho i di động nhãn hiệu iPhone 7 Plus, màu đen, dung lượng 32Gb (tình tr ng bung bể, hư hỏng hoàn toàn). Sau đó, Công an phường V đã chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng thu giữ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T thụ lý điều tra theo thẩm quyền.

T i Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 15 ngày 25/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản thị xã T, kết luận: 01 điện tho i di động nhãn hiệu iPhone 7 Plus, màu đen, dung lượng 32Gb t i thời điểm bị hủy ho i có giá trị là 6.800.000 đồng.

Điện tho i di động nhãn hiệu iPhone 7 Plus, màu đen, dung lượng 32Gb (tình tr ng bung bể, hư hỏng hoàn toàn). Quá trình điều tra xác định đây là tài sản thuộc sở hữu của ông Thái Văn Ng bị Nguyễn Văn T đập bể và bị hư hỏng hoàn toàn. Ngày 01/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã ban hành quyết định xử lý vật chứng và trả l i cho ông Ng.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo Nguyễn Văn T đã bồi thường cho ông Thái Văn Ng số tiền 7.000.000 đồng, ông Ng không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo.

T i Bản án hình sự sơ thẩm số: 143/2021/HS-ST ngày 26 tháng 10 năm 2021, Toà án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T ph m tội “Hủy ho i tài sản”.

2. Về hình ph t: căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử ph t bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù; thời h n tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 06 tháng 12 năm 2021, bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t (xin hưởng án treo).

Quan điểm của đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương: Kháng cáo của các bị cáo là trong thời h n luật định, Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm là đúng thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t và hưởng án treo nhưng không cung cấp được thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Nhận thấy, hành vi ph m tội của bị cáo là vi ph m pháp luật nhưng trị giá tài sản bị cáo làm hư hỏng không lớn (6.800.000 đồng), bị cáo đã tự nguyện bồi thường giá trị tài sản bị thiệt h i cho bị h i, giữa bị cáo và bị h i là b n (cùng làm việc chung và ở cùng phòng) không có mâu thuẫn. Do đó, cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ, hành vi ph m tội của bị cáo tuyên xử bị cáo 06 tháng tù là mức khởi điểm của khung hình ph t là phù hợp. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng. Vì vậy, việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình ph t tù mà xem xét xử lý bị cáo bằng hình thức ph t tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 143/2021/HSST ngày 26/10/2021 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương theo hướng chuyển từ hình ph t tù giam sang hình ph t tù nhưng cho hưởng án treo: xử ph t bị cáo Nguyễn Văn T Ph m 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm.

Bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi ph m tội mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo, xin hưởng án treo.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo T được thực hiện trong thời h n luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa, có căn cứ xác định như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 12/8/2020, t i nhà trọ ông Bồ Văn U thuộc khu phố 1, phường V, thị xã T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Văn T cùng với Nguyễn Đăng Th, Nguyễn Văn H, Nguyễn M nh T, Đoàn Xuân Kh tổ chức ăn uống rượu. Đến khoảng hơn 20 giờ cùng ngày, T2 không uống nữa, xin nghỉ thì T1 nói “Uống nốt ly rượu này rồi mấy anh em nghỉ đi uống cà phê, nếu không sẽ ném điện thoại di dộng của T2 ra đường”. Ng ngồi bên liền nói “Anh T2 không uống được nữa thì ngưng đi, còn ai ném điện thoại của anh ra đường thì phải mua lại đền cho anh thôi”. Nghe Ng nói vậy, T1 liền rút điện tho i hiệu iPhone 7 Plus của Ng đang s c pin ném m nh xuống nền g ch của phòng trọ làm điện tho i bị bể và hư hỏng không thể sử dụng được.

T i Kết luận định giá tài sản trong tố tụng số: 15/KL-TS-TTHS ngày 25/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, xác định giá trị điện tho i hiệu iPhone 7 Plus của Ng t i thời điểm định giá có giá 6.800.000 đồng.

Hành vi của bị cáo T1 cố ý ném điện tho i hiệu iPhone 7 Plus của bị h i Ng có giá trị 6.800.000 đồng làm cho điện tho i bị hư hỏng hoàn toàn là ph m vào tội “Hủy ho i tài sản”. Tội ph m mà bị cáo thực hiện gây thiệt h i về tài sản, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã T xét xử bị cáo tội “Hủy ho i tài sản” quy định t i khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Sau khi xét xử, bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t (xin hưởng án treo), Hội đồng xét xử xét thấy: tội ph m bị cáo T thực hiện gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội không lớn. Hành vi ph m tội có tính nhất thời, sau khi ph m tội biết ăn năn hối cải, giá trị tài sản bị hủy ho i không lớn, bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị h i; bị h i xin miễn hình ph t cho bị cáo; về hoàn cảnh, bị cáo có 04 người con (lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019), bị cáo là lao động chính trong gia đình.

Xét thấy, bị cáo có thân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nơi cư trú rỏ ràng; có khả năng tự cải t o bản thân nên không cần phải bắt chấp hành hình ph t tù. Do đó, chuyển hình ph t tù 06 tháng sang hình ph t tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe bị cáo, đồng thời t o điều kiện cho bị cáo chăm sóc cho gia đình và việc cho hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, kháng cáo của bị cáo được chấp nhận.

[4] Về án phí phúc thẩm:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu.

[5] Ý kiến của đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 143/2021/HS-ST ngày 26 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Xử ph t bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện D, tỉnh H giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Tuy thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi ph m nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình ph t tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Án phí hình sự phúc thẩm:

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Nguyễn Văn T không phải nộp.

3. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ