vanban.org

Bản án 52/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Cao Thị H1 với anh Trần Văn H1; quan hệ vợ chồng chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Khánh Q, sinh ngày 25-12-2019 cho chị Cao Thị H1 trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, kể từ khi ly hôn đến khi thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Cao Thị H1 với anh Trần Văn H2"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Cao Thị H1 với anh Trần Văn H1; quan hệ vợ chồng chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG ĐIỀN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 10-6-2022
V/v Ly hôn giữa chị Cao Thị H1
với anh Trần Văn H2

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Trường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Lệ Hằng.

2. Ông Nguyễn Quang Thận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 16/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Cao Thị H1, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn H, xã P, PĐ, Thừa Thiên Huế; địa chỉ liên lạc: Thôn 3, xã Đ, huyện PĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Văn H2, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn H, xã P, PĐ, Thừa Thiên Huế; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 14-02-2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Cao Thị H1 trình bày:

Chị và anh Trần Văn H2 chung sống với nhau có hỏi cưới theo phong tục vào năm 2017; cả hai tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 19-3-2018 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau khi hỏi cưới, cả hai chung sống, làm việc tại thành phố Đà Nẵng được khoảng 06 tháng thì về ở nhà cha mẹ chồng tại xã P, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế và đã đăng ký thường trú chung với nhau. Chị làm công nhân, anh H2 lao động tự do.

Mâu thuẫn vợ chồng nảy sinh từ khoảng giữa năm 2020; nguyên nhân là anh H2 không lo làm ăn mà hay uống rượu bia, ghen tuông vô cớ và có lời nói xúc phạm vợ nên chị về ở nhà cha mẹ đẻ. Anh H2 không khắc phục mà nhiều lần đến nhà cha mẹ của chị gây gỗ, có lần chị phải báo Công an xã can thiệp. Tình trạng kéo dài, không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con: Vợ chồng có một người con chung là cháu Trần Khánh Q, sinh ngày 25-12-2019. Từ khi vợ chồng không chung sống, chị là người nuôi cháu Q. Chị yêu cầu giải quyết nuôi con theo quy định của pháp luật, đề nghị giao cháu Q cho chị trực tiếp nuôi đến khi thành niên do cháu còn quá nhỏ.

Về cấp dưỡng: Chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; không yêu cầu cấp dưỡng gì khác.

Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản ghi lời khai ngày 11-5-2022, bị đơn là anh Trần Văn H2 trình bày:

Thừa nhận việc chung sống với nhau có hỏi cưới theo phong tục và tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã P. Anh thừa nhận vợ chồng không hợp nhau về tính cách, lối sống; do điều kiện công việc nên anh hay uống rượu bia, chị H1 không chia sẻ với chồng nên vợ chồng hay gây gỗ nhau. Từ năm 2020, vợ chồng không chung sống. Anh đồng ý yêu cầu ly hôn của chị Huệ.

Về con: Thống nhất vợ chồng có một người con chung là cháu Trần Khánh Q, sinh ngày 25-12-2019, đang ở với chị H1. Nếu ly hôn, anh đồng ý giao chị H1 nuôi cháu Q đến khi thành niên.

Về cấp dưỡng: Anh không có ý kiến, yêu cầu gì.

Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 11-5-2022, anh Trần Văn H2 có đơn đề nghị không hòa giải và đề nghị xét xử vắng mặt.

Ngày 18-5-2022, chị Cao Thị H2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý, Thẩm phán thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên đề nghị căn cứ Điều 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Chị Cao Thị H1 và anh Trần Văn H2 kết hôn hợp pháp; quá trình chung sống có một người con chung là cháu Trần Khánh Q, sinh ngày 25-12-2019.

Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xử chấp nhận cho chị H1 ly hôn; về con chung giao cháu Q cho chị H1 trực tiếp nuôi đến khi thành niên; về cấp dưỡng không có yêu cầu nên không xem xét; tài sản, nghĩa vụ chung không có yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Toà án nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với bị đơn là anh Trần Văn H2 có địa chỉ cư trú tại xã P, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.

[1.2] Về việc vắng mặt đương sự: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và áp dụng thủ tục xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị H1 và anh Trần Văn H2 tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã P, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 18-3-2018. Thời điểm đăng ký có đủ điều kiện kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

Về yêu cầu ly hôn: Trên cơ sở yêu cầu ly hôn của chị Cao Thị H1, ý kiến của anh Trần Văn H2; kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ về nguyên nhân mâu thuẫn và nguyện vọng của vợ, chồng, thấy rằng:

Chị H1 và anh H2 thừa nhận tình trạng mâu thuẫn vợ chồng do không hợp về tính cách, lối sống nên hay cãi vã nhau; vợ chồng đã không chung sống từ năm 2020 đến nay, không có nghĩa vụ và trách nhiệm vợ chồng với nhau. Quá trình tố tụng, anh H2 chấp nhận ly hôn, không có nguyện vọng đoàn tụ. Chứng tỏ, vợ chồng không có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau; làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu cho chị H1 ly hôn. Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở.

Về con: Anh Trần Văn H2 và chị Cao Thị H1 thừa nhận có một người con chung là cháu Trần Khánh Q, sinh ngày 25-12-2019, phù hợp chứng cứ là giấy khai sinh.

Xét yêu cầu được giao trực tiếp nuôi con chung của chị H1, thấy rằng:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: “3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.

Từ khi vợ chồng không chung sống, chị H1 là người nuôi cháu Q. Hiện tại, cháu Q còn dưới 36 tháng tuổi. Anh H2 cũng có ý kiến đồng ý việc chị H1 nuôi con chung sau khi ly hôn. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu giao cháu Q cho chị H1 trực tiếp nuôi đến khi thành niên là phù hợp. Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng: Quá trình giải quyết vụ án, đương sự đã được phổ biến, giải thích nhưng tự nguyện không yêu cầu nên không xét.

Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không có yêu cầu giải quyết nên không xét. Trường hợp sau này có tranh chấp thì có quyền khởi kiện trong vụ án khác.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc nguyên đơn chịu án phí ly hôn theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 238 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 56; các Điều 81 và 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Cao Thị H1 với anh Trần Văn H1; quan hệ vợ chồng chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Khánh Q, sinh ngày 25-12-2019 cho chị Cao Thị H1 trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, kể từ khi ly hôn đến khi thành niên.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Cao Thị H1 phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số AA/2021/00001856 ngày 24-02-2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; chị H1 đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ