- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn do mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Mai A được ly hôn anh Trần Tr.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2022/HNGĐ-ST Ngày 27-12-2022 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Bấm
Bà Nguyễn Thị Tư
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hùng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 96/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Mai A; nơi cư trú: Khu 3, phường Y, thị xã Q, tỉnh Q; có mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Tr; nơi ĐKHKTT: Tổ 14, cụm 2, phường Đ, quận N, thành phố H; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 03 tháng 10 năm 2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đinh Thị Mai A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Mai A và anh Trần Tr kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, đám cưới tổ chức theo phong tục Việt Nam. Anh chị có đăng ký kết hôn ngày 11/01/2012 tại Uỷ ban nhân dân phường Đ, quận N, thành phố H.
Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp. Gia đình hai bên cũng đã hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả, anh chị đã sống ly thân được một thời gian. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, chị Đinh Thị Mai A đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Tr.
Về con chung: Anh chị có ba con chung là Trần Bảo N, sinh ngày 14/3/2010; Trần Anh Ph, sinh ngày 31/12/2016 và Trần Anh Tr, sinh ngày 18/9/2018. Hiện nay anh Tr đang bị khởi tố tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng nên không có khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc các con. Vì vậy chị đề nghị Tòa án giao cả ba con cho chị nuôi. Về cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Trần Tr trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Tr xác nhận, anh và chị Đinh Thị Mai A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, đám cưới tổ chức theo phong tục Việt Nam. Anh chị có đăng ký kết hôn ngày 11/01/2012 tại Uỷ ban nhân dân phường Đ, quận N, thành phố H.
Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp. Gia đình hai bên cũng đã hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả, anh chị đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không còn quan hệ về tình cảm và kinh tế. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, sống chung không có hạnh phúc, anh đồng ý ly hôn với chị Mai A.
Về con chung: Anh chị có ba con chung là Trần Bảo N, sinh ngày 14/3/2010; Trần Anh Ph, sinh ngày 31/12/2016 và Trần Anh Tr, sinh ngày 18/9/2018. Hiện nay anh Tr đang bị khởi tố tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng nên không có khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc các con. Vì vậy anh đồng ý giao cả ba con cho chị Mai A nuôi. Về cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ về cuộc sống hôn nhân của chị Đinh Thị Mai A và anh Trần Tr tại chính quyền địa phương cũng như lời khai của người thân trong gia đình. Các lời khai đều thể hiện mâu thuẫn giữa chị Đinh Thị Mai A và anh Trần Tr là trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Tại phiên tòa, chị Đinh Thị Mai A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh Trần Tr đang bị khởi tố tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng vì vậy vắng mặt tại phiên tòa và đã có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét mâu thuẫn của chị Đinh Thị Mai A và anh Trần Tr đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 71, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, xử cho chị Đinh Thị Mai A được ly hôn anh Trần Tr. Về việc nuôi con: Do anh Trần Tr đang bị khởi tố tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử giao cả ba con Trần Bảo N, sinh ngày 14/3/2010; Trần Anh Ph, sinh ngày 31/12/2016 và Trần Anh Tr, sinh ngày 18/9/2018 cho chị Mai A trực tiếp nuôi cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị Mai A và anh Tr tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về việc chia tài sản: Chị Mai A và anh Tr không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Mai A phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Nguyên đơn chị Đinh Thị Mai A khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn anh Trần Tr có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 14, cụm 2, phường Đ, quận N, thành phố H; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng vf anh Tr có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về áp dụng pháp luật nội dung:
+ Về quan hệ hôn nhân:
Chị Đinh Thị Mai A và anh Trần Tr lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 11/01/2012 tại Uỷ ban nhân dân phường Đ, quận N, thành phố H nên quan hệ hôn nhân của chị Mai A và anh Tr là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Mâu thuẫn của chị Mai A và anh Tr qua các tài liệu, chứng cứ Tòa án đã thu thập thể hiện quá trình chung sống giữa chị Mai A và anh Tr phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp, thực tế vợ chồng đã ly thân nhau từ lâu không liên quan đến nhau về tình cảm cũng như kinh tế. Xét mâu thuẫn vợ chồng của chị Mai A và anh Tr là trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, hai anh chị cùng thuận tình ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị Mai A đối với anh Trần Tr là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
+ Về việc nuôi con:
Chị Đinh Thị Mai A và anh Trần Tr có ba con chung là Trần Bảo N, sinh ngày 14/3/2010; Trần Anh Ph, sinh ngày 31/12/2016 và Trần Anh Tr, sinh ngày 18/9/2018. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay anh Tr đang bị khởi tố tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng nên không có khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc các con và con Trần Bảo N có nguyện vọng được ở với mẹ nên giao cả ba con cho chị Mai A trực tiếp nuôi là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 71, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Mai A và anh Tr tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
+ Về việc chia tài sản:
Chị Đinh Thị Mai A và anh Trần Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
+ Về án phí:
Chị Đinh Thị Mai A phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Mai A được ly hôn anh Trần Tr.
2. Về việc nuôi con: Giao con Trần Bảo N, sinh ngày 14/3/2010; Trần Anh Ph, sinh ngày 31/12/2016 và Trần Anh Tr, sinh ngày 18/9/2018 cho chị Đinh Thị Mai A trực tiếp nuôi cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị Đinh Thị Mai A và anh Trần Tr tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về việc chia tài sản: Chị Đinh Thị Mai A và anh Trần Tr không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Đinh Thị Mai A phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006737 ngày 26 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Chị Đinh Thị Mai A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo đối với bản án:
Nguyên đơn chị Đinh Thị Mai A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị đơn anh Trần Tr có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND quận Ngô Quyền;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
- Đương sự;
- UBND phường Đ, quận N, thành phố H (ĐKKH ngày 11/01/2012);
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Nguyễn Hồng Giang THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hồng Giang
\ Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND quận Ngô Quyền;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
- Đương sự;
- UBND phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng (ĐKKH ngày 11/01/2012);
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Nguyễn Hồng Giang
| Nơi nhận: - VKSND quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - Đương sự; - UBND phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng (ĐKKH ngày 31/12/1993); - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Giang Đào Thị Hảo |