- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân và gia đình giữa chị H và anh Thế A"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trịnh Thảo H và anh Nguyễn Thế A.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2022/HNGĐ-ST Ngày 26-12-2022 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Anh Thơ
Bà Mai Thị Duyên
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền- Thẩm tra viên Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 96/2022/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 10 năm 2022 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thảo H
ĐKHKTT và nơi ở: Cam L 6 (số 8/157 Quốc lộ X mới), phường Hùng V, quận Hồng B, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thế A
ĐKHKTT: Tổ 12, phường Đằng H, quận Hải A, Hải Phòng.
Hiện đang chấp hành hình phạt tù tại: Đội 31, phân trại 2, Trại giam Nam H, thị trấn Ba S, huyện Kim B, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 12 tháng 10 năm 2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trịnh Thảo H trình bày:
Về hôn nhân: Chị Trịnh Thảo H và anh Nguyễn Thế A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hùng V, quận Hồng B, Hải Phòng vào ngày 03/01/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với gia đình anh Thế A tại tổ 12, phường Đằng H, quận Hải A, Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm, tính cách, lối sống dẫn đến không còn tình cảm với nhau. Từ tháng 6/2016 đến nay, chị H về nhà bố mẹ đẻ của chị H sinh sống, vợ chồng sống ly thân. Tháng 12/2018, anh Thế A bị tạm giam, sau đó bị Tòa án nhân dân huyện Gia L, tỉnh Hải Dương xử phạt 08 năm 09 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Hiện nay, anh Thế A đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Nam H. Thực tế, chị H và anh Thế A đã cắt đứt mọi liên lạc, quan hệ từ tháng 6/2016, hai bên đã không còn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Thế A.
Về nuôi con: Chị H và anh Thế A có 01 con chung là Nguyễn Thảo Ng, sinh ngày 25/3/2014. Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện nay chị H làm công việc tự do, thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng. Chị H cùng con đang sinh sống cùng bố mẹ đẻ chị H tại Cam L 6 (số 8/157 Quốc lộ X mới), phường Hùng V, quận Hồng B, thành phố Hải Phòng.
Về chia tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 02/11/2022, bị đơn là anh Nguyễn Thế A trình bày: Về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như trình bày của chị H. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn, cãi nhau. Ngày 10/12/2018, anh Thế A bị bắt và đi chấp hành án phạt tù 08 năm 09 tháng về tội Cố ý gây thương tích tại đội 31, phân trại 2, Trại giam Nam H. Anh Thế A đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị H.
Về nuôi con: Vợ chồng có 01 con chung như lời trình bày của chị H. Hiện tại, anh Thế A đang chấp hành án nên không có điều kiện để nuôi con. Khi chấp hành án xong, anh Thế A có nguyện vọng được nuôi con.
Về chia tài sản: Anh Thế A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên có ý kiến như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định.
Quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân quận Hải An nhận định:
- Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Ngày 19/10/2022, chị Trịnh Thảo H nộp đơn khởi kiện anh Nguyễn Thế A về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, các đương sự vắng mặt có đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về hôn nhân: Chị Trịnh Thảo H và anh Nguyễn Thế A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn của vợ chồng chị H và anh Thế A đã diễn ra trong thời gian dài. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016, hai bên không còn tình cảm, không còn quan tâm, trách nhiệm đến nhau. Chị H giữ nguyên yêu cầu ly hôn, anh Thế A cũng đồng ý. Xét việc thuận tình ly hôn của chị H và anh Thế A là thật sự tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị H và anh Thế A.
Về nuôi con: Chị H và anh Thế A có 01 con chung là Nguyễn Thảo Ng, sinh ngày 25/3/2014. Xét hiện tại anh Thế A đang phải chấp hành hình phạt tù, không có điều kiện để nuôi con. Chị H có nơi ở, có công việc và thu nhập, có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con. Mặt khác, cháu Nguyễn Thảo Ng có nguyện vọng ở với chị H. Từ khi vợ chồng ly thân (năm 2016) đến nay, chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, vẫn đảm bảo cuộc sống của con. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình cần giao cháu Ng cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Trường hợp sau khi chấp hành xong hình phạt tù, anh Thế A có yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H và anh Thế A đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về chia tài sản: Chị H và anh Thế A không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về án phí:
Chị H và anh Thế A cùng thuận tình ly hôn nên mỗi bên phải chịu 50% mức án phí quy định, theo điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 55, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội,
1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trịnh Thảo H và anh Nguyễn Thế A.
2. Về nuôi con:
Giao con chung Nguyễn Thảo Ng, sinh ngày 25/3/2014 cho chị Trịnh Thảo H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi, hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, ngườ i không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở .
3. Về chia tài sản: Hội đồng xét xử không giải quyết.
4. Về án phí:
Chị Trịnh Thảo H phải chịu 75.000đ (bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Chị H đã nộp tạm ứng án phí 300.000đồng; trả lại cho chị H 225.000đ (hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng); theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004788 ngày 24/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, Hải Phòng.
Anh Nguyễn Thế A phải chịu 75.000đ (bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án đựơc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi thành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành dân sự đựơc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND quận Hải An; - VKSND TP. Hải Phòng; - TAND TP. Hải Phòng; - UBND phường Hùng V, quận Hồng B, Hải Phòng; - Chi cục THA DS quận Hải An; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Thủy |