vanban.org

Bản án 52/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Mai Thị X, cho chị X được ly hôn anh Phạm Văn P.

Về con: Giao cháu Phạm Minh T, sinh ngày 29/3/2015 cho chị Mai Thị X trực tiếp nuôi dưỡng, anh Phạm Văn P không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh P có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Về án phí: Chị Mai Thị X phải chịu án phí DSST về việc ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng)… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Mai Thị X yêu cầu anh Phạm Văn P"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Mai Thị X, cho chị X được ly hôn anh Phạm Văn P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15-11-2022
V/v: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Nam Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Vinh.

2. Ông Nguyễn Văn Quản.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 181/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Mai Thị X, sinh năm 1990; địa chỉ: 20/4, Khu phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nơi ở hiện nay: Thôn 6, xã A, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Phạm Văn P, sinh năm 1991; địa chỉ: thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/8/2022, bản tự khai ngày 16/8/2022 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Mai Thị X trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn P kết hôn với nhau vào ngày 18/6/2014 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh P không lo làm ăn, thường xuyên chơi bời, đánh đập bạo hành chị. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 10/2014 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm và liên lạc gì với nhau nữa. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh P.

Về con: Vợ chồng có một con chung là Phạm Minh T, sinh ngày 29/3/2015. Hiện nay cháu đang ở với mẹ. Chị X đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con và không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, nên chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn Phạm Văn P: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã giao thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ cho anh P (bằng hình thức niêm yết công khai) nhưng anh P đều vắng mặt, không đến Tòa án để thực hiện việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa lần thứ nhất anh P vắng mặt nên Hội đồng xét xử (HĐXX) đã ra quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, anh P vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt anh P.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS); những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Về giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị X, cho chị X được ly hôn anh Phạm Văn P; về con: giao cháu Phạm Minh T, sinh ngày 29/3/2015 cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng, anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về án phí: chị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) về việc ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết:

Chị Mai Thị X có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Phạm Văn P. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, anh Phạm Văn P vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt đối với anh P.

* Về nội dung giải quyết:

Về hôn nhân: Chị Mai Thị X và anh Phạm Văn P kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không được hạnh phúc mà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị X trình bày là do anh P không lo làm ăn, thường xuyên chơi bời, đánh đập bạo hành chị. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2014 cho đến nay. Qua xác minh tại địa phương thì thấy: vợ chồng anh P, chị X kết hôn và làm việc trong miền Nam, thỉnh thoảng về thăm gia đình ở thôn H, xã T. Một thời gian sau, nghe thông tin vợ chồng xảy ra một số mâu thuẫn, hiện tại chị X đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ tại xã A sinh sống. Từ những mâu thuẫn nêu trên, chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, bản thân anh P cũng không có ý kiến gì về yêu cầu ly hôn của chị X, nên HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị X, cho chị X được ly hôn anh P là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con: Vợ chồng có một con chung là Phạm Minh T, sinh ngày 29/3/2015. Chị X đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con và không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xét thấy, hiện nay cháu T đang ở cùng với mẹ, nguyện vọng của cháu nếu bố mẹ ly hôn là được ở với mẹ, còn anh P không có ý kiến gì, nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị X, giao cháu T cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng, anh P không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung do chị X không yêu cầu là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tài sản: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, còn anh P không có ý kiến gì, nên miễn xét.

Về án phí: Chị X phải chịu án phí DSST về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Mai Thị X, cho chị X được ly hôn anh Phạm Văn P.

2. Về con: Giao cháu Phạm Minh T, sinh ngày 29/3/2015 cho chị Mai Thị X trực tiếp nuôi dưỡng, anh Phạm Văn P không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh P có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Mai Thị X phải chịu án phí DSST về việc ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số AA/2021/0015030 ngày 15/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nga Sơn, chị X đã nộp đủ án phí DSST.

Về quyền kháng cáo: Chị Mai Thị X có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Phạm Văn P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ