- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Phùng Dương L được ly hôn với chị Nguyễn Minh N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2022/HNGĐ-ST Ngày 14-7-2022 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Minh Khánh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Tiến.
Bà Phan Thị Trang Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Ngày 14 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 99/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phùng Dương L, sinh năm 1990 (xin vắng).
Địa chỉ: Ấp T, thị t, huyện P, tỉnh C .
- Bị đơn: Chị Nguyễn Minh N, sinh năm 1995 (xin vắng).
Địa chỉ: Ấp N, xã H, huyện N, tỉnh C .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 01/4/2022, nguyên đơn – anh Phùng Dương L trình bày:
- Về hôn nhân: Năm 2016, sau thời gian tìm hiểu thì anh L và chị N tiến đến hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, không có tổ chức đám cưới nhưng có lập thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hiệp Tùng, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau vào ngày 19 tháng 02 năm 2019.
Lý do xin ly hôn: Anh L cho rằng hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn kể từ khi vợ chồng bắt đầu chung sống với nhau do bất đồng quan điểm, không phù hợp quan điểm sống về mọi mặt. Mâu thuẫn kéo dài nhưng không tìm được cách giải quyết, mặc dù gia đình thân tộc hai bên đã hàn gắn nhưng không mang lại kết quả. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Suốt thời gian sống ly thân anh chị không có cách nào giải quyết mâu thuẫn. Nay tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân tiếp tục duy trì cũng không hạnh phúc nên anh L yêu cầu ly hôn với chị N.
- Về con chung: Có 01 người con tên Phùng Gia Anh (Nữ), sinh ngày 08/8/2017. Hiện nay con đang sống với anh L, khi ly hôn anh L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng, chia tài sản và công nợ: Không yêu cầu.
* Tại văn bản ngày 27/6/2022, bị đơn – chị Nguyễn Minh N trình bày:
- Về hôn nhân: Theo lời trình bày của anh L về thời gian kết hôn là đúng. Trong khoảng thời gian vợ chồng chung sống với nhau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm mọi mặt trong cuộc sống, dẫn đến không hạnh phúc. Anh chị cũng đã sống ly thân khoảng 01 năm nay nhưng không có cách hàn gắn hôn nhân. Nay anh L yêu cầu ly hôn thì chị N đồng ý ly hôn vì duy trì cũng không hạnh phúc.
- Về con chung: Có 01 người con tên Phùng Gia Anh (Nữ), sinh ngày 08/8/2017. Hiện nay con đang sống với anh L, khi ly hôn anh L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng thì chị N đồng ý để anh L nuôi con.
- Về cấp dưỡng, chia tài sản và công nợ: Không đặt ra.
Tại phiên tòa các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt nên không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng
Anh L yêu cầu ly hôn với chị N, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Anh L và chị N có đơn xin xét xử vắng mặt do bận công việc nên không thể tham gia phiên tòa. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án
- Về hôn nhân: Hồ sơ vụ án thể hiện, năm 2016, anh L và chị N tiến tới hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, sau đó mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hiệp Tùng, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau vào ngày 19/02/2019, tại Giấy chứng nhận kết hôn số 07/2019. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của anh L với chị N được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Anh L và chị N đều xác định hôn nhân xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm kéo dài, dẫn đến đời sống chung của vợ chồng không hạnh phúc nên anh L yêu cầu ly hôn, chị N đồng ý. Do hai đương sự xin xét xử vắng mặt nên không thể công nhận sự thuận tình ly hôn.
Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh L đối với chị N theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về nuôi con chung: Anh chị có 01 người con tên Phùng Gia Anh (Nữ), sinh ngày 08/8/2017. Hiện nay con đang sống với anh L. Khi ly hôn, hai đương sự đều thống nhất giao con để anh L tiếp tục nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy anh L vẫn đảm bảo mọi mặt cuộc sống cho con nên quyết định tiếp tục giao cháu Phùng Gia Anh để anh L tiếp tục nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng, chia tài sản, công nợ: Các đương sự tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết, căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự“Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”, do đương sự không đặt ra yêu cầu nên không xem xét là có cơ sở.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch, nguyên đơn phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Ngày 01/3/2022, anh L dự nộp 300.000 đồng tại Biên lai thu tiền số 0015504 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn được khấu trừ.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 147; điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Phùng Dương L được ly hôn với chị Nguyễn Minh N.
Về nuôi con chung: Giao cháu Phùng Gia Anh (Nữ), sinh ngày 08/8/2017 để anh Phùng Dương L trực tiếp nuôi dưỡng.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng, chia tài sản và công nợ: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch: 300.000 đồng anh Phùng Dương L chịu. Ngày 01/4/2022, anh L dự nộp 300.000 đồng tại Biên lai thu tiền số 0015504 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn được khấu trừ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án, vắng mặt tính từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự. - VKSND huyện Năm Căn; - Chi cục THADS huyện Năm Căn; - UBND xã Hiệp Tùng, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Khánh |