vanban.org

Bản án 52/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ D đối với ông Võ Văn C. Bà Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với ông Võ Văn C.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Võ Văn C khai có hai con chung tên là Võ Thị Oanh K, sinh ngày 29/10/1991 và Võ Trường G, sinh ngày 01/7/1994; hiện nay, các con chung đã thành niên và có khả năng lao động để tự nuôi mình nên Tòa án không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Võ Văn C"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ D đối với ông Võ Văn C. Bà Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với ông Võ Văn C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 31-5-2022
V/v: “ ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Kim Trường Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Trí Chấn.

2. Ông Trịnh Hồng Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Ngày 31 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 216/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2022 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1973 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Ông Võ Văn C, sinh năm 1963 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.

NỘI D VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/3/2022, bản tự khai, các tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ D trình bày:

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Võ Văn C tự nguyện kết hôn vào năm 1996, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 01/9/1996. Quá trình vợ chồng sống chung hạnh phúc thời gian đầu đến tháng 04/2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau do ông C hay ghen tuông nên có lời nói xúc phạm bà D; bà D nhiều lần khuyên nhưng ông C không thay đổi nên bà D và ông C sống ly thân từ tháng 04/2021 cho đến nay. Nay bà D xác định tình cảm vợ chồng không còn với ông C nên bà D làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà D được ly hôn với ông C.

Tại biên bản làm việc ngày 05/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, bị đơn ông Võ Văn C trình bày:

Ông Võ Văn C thống nhất với phần trình bày của bà Nguyễn Thị Mỹ D về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn và nơi kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, bà D đi làm ở Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 10 năm nay và thường xuyên về thăm gia đình. Từ năm 2021 cho đến nay bà D ít về thăm gia đình. Nay bà D yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Võ Văn C khai có hai con chung tên là Võ Thị Oanh K, sinh ngày 29/10/1991 và Võ Trường G, sinh ngày 01/7/1994; hiện nay, các con chung đã thành niên và có khả năng lao động để tự nuôi mình nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Võ Văn C tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Võ Văn C khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Mỹ D khởi kiện ông Võ Văn C. Hiện nay, ông Võ Văn C, sinh năm 1963; cư trú tại: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Ngày 05 tháng 5 năm 2022, ông Võ Văn C là bị đơn có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Võ Văn C.

Về quan hệ hôn nhân: Ngày 01/9/1996, Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận kết hôn cho bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Võ Văn C nên quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Võ Văn C là hợp pháp. Quá trình vợ chồng sống chung hạnh phúc thời gian đầu đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau; ông C hay ghen tuông nên có lời nói xúc phạm bà D; do đó, ông C đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Bà D xác định tình cảm vợ chồng không còn với ông C và không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nên không còn khả năng đoàn tụ. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà D và ông C đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu ly hôn của bà D có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Võ Văn C khai có hai con chung tên là Võ Thị Oanh K, sinh ngày 29/10/1991 và Võ Trường G, sinh ngày 01/7/1994; hiện nay, các con chung đã thành niên và có khả năng lao động để tự nuôi mình nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Võ Văn C tự thỏa thuận nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Võ Văn C khai không có nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch: Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, và Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ D đối với ông Võ Văn C. Bà Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với ông Võ Văn C.

2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Võ Văn C khai có hai con chung tên là Võ Thị Oanh K, sinh ngày 29/10/1991 và Võ Trường G, sinh ngày 01/7/1994; hiện nay, các con chung đã thành niên và có khả năng lao động để tự nuôi mình nên Tòa án không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Võ Văn C tự thỏa thuận nên Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ D và ông Võ Văn C khai không có nên Tòa án không xem xét giải quyết.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch: Bà Nguyễn Thị Mỹ D phải nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006419 ngày 19 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

6. Đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ