vanban.org

Bản án 52/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

/Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L

Giao cháu Nguyễn Quỳnh Trang, sinh ngày 07/5/2018 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng; Vấn đề cấp dưỡng các bên không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "nguyễn thị là -nguyễn tiến dũng"
  • Tòa quyết gì? /Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52 /2022/HNGĐ-ST
Ngày 28/7/2022
V/v “Thay đổi người trực tiếp nuôi con
sau ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sự

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Thế Hanh

Ông Nguyễn Xuân Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND huyện H, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Duy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 144/2022/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2022 về việc tranh chấp “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2022/QĐST-HNGĐ ngày 06/7/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2022/QĐST – HNGĐ ngày 21/7/2022 giữa các đương sự;

-Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1995 ( có mặt)

Nơi cư trú: Thôn V, xã T,thành phố B, tỉnh Bắc Giang;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Là: Bà Giáp Thị V- Luật sư - Văn phòng Luật sư Kim Vĩnh An - thuộc đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang;

( có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Số 99, đường Hùng Vương, phường Ngô Quyền,thành phố B, tỉnh Bắc Giang

-Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1994 ( vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Dũng: Ông Nguyễn Văn Th - Luật sư - Công ty Luật TNHH Trường Tín - chi nhánh tại Bắc ( có mặt)

Địa chỉ: Tầng 2, số nhà 352, đường Thân Nhân Trung, khu phố II, thị trấn Bích Động, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị và anh Dũng kết hôn năm 2014, trong quá trình chung sống thì chị và anh Dũng sinh được 02 cháu là Nguyễn Như Quỳnh, sinh ngày 17/3/2016 và cháu Nguyễn Quỳnh Trang, sinh ngày 07/5/2018. Do không ở được với nhau nên năm 2021, chị và anh Dũng đã ly hôn. Tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 69/2021/QĐST -HNGĐ ngày 14/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang chị và anh Dũng thỏa thuận để anh Dũng tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung, vì lúc đó bản thân chị chưa có điều kiện để nuôi con, vấn đề cấp dưỡng hai bên tự thỏa thuận, tài sản, công nợ chị và anh Dũng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn xong thì trong quá trình thăm gặp con thì anh Dũng và gia đình anh Dũng đều gây khó dễ cho chị việc đón thăm con, chị chỉ đến lớp học của con để thăm. Từ ngày ly hôn đến nay chị không được đón 02 con về nhà ông bà ngoại chơi vào ngày lễ hay ngày nghỉ hè. Nay chị khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn và xin được nuôi cả 2 con chung, không yêu cầu anh Dũng cấp dưỡng nuôi con. Nếu không được nuôi 2 con chung thì chị xin được nuôi cháu Nguyễn Quỳnh Trang, sinh ngày 07/05/2018, còn anh Dũng nuôi cháu Nguyễn Như Quỳnh, sinh ngày 17/3/2016.

Hiện nay chị làm nghề bất động sản, thu nhập khoảng 50 triệu đồng/ 1 tháng, công việc làm giờ hành chính, về điều kiện kinh tế cũng như thời gian thì chị xác định đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung.

Tại phiên tòa chị Là có mặt và vẫn giữ nguyên ý kiến của mình.

* Bị đơn anh Nguyễn Tiến D trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị L kết hôn năm 2015, trong quá trình chung sống thì anh chị sinh được 02 cháu là Nguyễn Như Quỳnh, sinh ngày 17/3/2016 và cháu Nguyễn Quỳnh Trang, sinh ngày 07/5/2018. Do không ở được với nhau nên năm 2021 anh chị đã ly hôn, tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 69/2021/QĐST -HNGĐ ngày 14/4/2021 anh chị thỏa thuận để anh tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung, vấn đề cấp dưỡng hai bên tự thỏa thuận, tài sản, công nợ chúng tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh nuôi 02 con chung từ đó cho đến nay, sức khỏe hai cháu phát triển tốt, hiện nay cháu Quỳnh chuẩn bị lên lớp 1 Trường Tiểu học xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang, còn cháu Trang hiện nay 4 tuổi đang đi học trường mẫu giáo. Trong thời gian anh nuôi con sau khi ly hôn thì chị Là không cấp dưỡng tiền nuôi con, chỉ mua quần áo và không thường xuyên đón con.

Hiện nay anh đang làm nghề lái xe đường dài, thu nhập khoảng 30.000.000 đồng/tháng, công việc thường xuyên phải đi làm ăn xa nhà, đi khoảng vài ngày mới về nhà, việc chăm sóc 02 cháu chủ yếu do ông bà nội chăm sóc là chủ yếu.

Nay chị Là có đơn khởi kiện xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì anh không đồng ý, vì lý do khi ly hôn thì anh và chị Là đã thỏa thuận một trong hai người nếu nuôi thì nuôi cả hai con, thì chị Là đồng ý để cho anh nuôi 2 con, trong thời gian anh nuôi con chị Là có thăm con nhưng không thường xuyên, không cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa anh Dũng vắng mặt.

*Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Dũng: Ông Nguyễn Văn Th trình bày: Chị Là nói chị bị anh Dũng và gia đình anh Dũng gây khó dễ và đánh đập chị khi chị về thăm con là không đúng sự thật, việc công an xác nhận thu nhập của chị Là là không đúng thẩm quyền. Ngoài ra các cháu khi ở với anh Dũng thì sức khỏe các cháu phát triển tốt và học tập tốt. Công việc của anh Dũng có phải đi làm xa nhà nhưng anh Dũng có bố mẹ ở nhà giúp đỡ và đưa đón con cho anh Dũng nên không có gì ảnh hưởng đến cuộc sống của các cháu. Do vậy, ông không chấp nhận yêu cầu của chị Là.

*Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Là: Bà Giáp Thị Vtrình bày:

Chị Nguyễn Thị L với anh Nguyễn Tiến D kết hôn với nhau năm 2014 và có hai con chung là cháu Nguyễn Như Quỳnh sinh ngày 17/3/2016 và cháu Nguyễn Quỳnh Trang sinh ngày 07/5/2018. Tuy nhiên do phát sinh mâu thuẫn không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống vợ chồng nên ngày 14/4/2021 Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà đã ban hành Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thay đổi của các đương sự số 69/2021 cho chị Là và anh Nguyễn Tiến D đã ly hôn.

Giao cho anh Nguyễn Tiến D nuôi hai cháu là cháu Nguyễn Như Quỳnh sinh ngày 17/3/2016 và cháu Nguyễn Quỳnh Trang sinh ngày 07/5/2018 và không yêu cầu chị Là phải cấp dưỡng nuôi con.

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hoà giải tại toà án Chị Là trình bày sau khi ly hôn thì chị không được đến đón con đi chơi, nếu có đến thăm con thì gia đình anh Dũng và anh Dũng ngăn cản không cho thăm con đồng thời biết được gia đình anh Dũng đã nhồi nhét tư tưởng cho các bé rằng mẹ của các con chị đã bỏ chúng mà đi. Việc học hành của các cháu không được anh Dũng quan tâm chăm lo chu đáo mà thường xuyên phó mặc cho ông bà nội khiến các cháu bị thiệt thòi. Công việc của anh Dũng là lái xe ô tô đường dài không có thời gian chăm sóc các cháu nên toàn bộ việc chăm sóc, các cháu đều giao cho ông bà Nội khiến cho các cháu bị ảnh hưởng. Đến nay bản thân chị Là đã có công việc ổn định, về ở nhà ông bà ngoại nên có đủ điều kiện kinh tế để nuôi cả 2 cháu. Mặt khác chị Là có thời gian đưa đón các cháu đi học, chỉ bảo các cháu học hành hàng ngày cũng như có thể cho các cháu điều kiện tốt nhất để phát triển cả về thể chất cũng như tinh thần, kinh tế ổn định.

Vì vậy, xét về điều kiện kinh tế, điều kiện về thời gian chăm sóc các con và chỗ ở cho các cháu thì chị Là có thể đảm bảo để chăm sóc cho các cháu trong khi anh Dũng mặc dù có điều kiện về kinh tế, nhưng không có thời gian chăm sóc con, anh Dũng lái xe đường dài nên ít khi ở nhà và nếu có về nhà thì cũng chỉ được nghỉ 1 đến 2 ngày rồi lại đi nên toàn bộ việc chăm sóc con cái anh Dũng không thực hiện mà giao cho bố mẹ của mình ở nhà chăm sóc thay trong khi bố mẹ anh Dũng lại có việc ngăn cản chị Là đến thăm con nên việc làm này là không đúng quy định của pháp luật, gây cản trở quyền thăm nuôi chăm sóc của người mẹ. Bà đề nghị căn cứ các điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; điều 28, điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị Nguyễn Thị L giao cháu Nguyễn Như Quỳnh sinh ngày 17/3/2016 và cháu Nguyễn Quỳnh Trang sinh ngày 07/5/2018 để chị Là chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu đến khi trưởng thành để các cháu không bị thiệt thòi về tình cảm, được học hành phát triển đầy đủ cả về thể chất cũng như tinh thần.

Về cấp dưỡng nuôi con chung thì chị Là không yêu cầu anh Dũng phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại phiên tòa bà Giáp Thị Vvắng mặt và có đơn xin vắng mặt khi xét xử.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án.

- Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83; Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình. Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L:

Giao cháu Nguyễn Quỳnh Trang, sinh ngày 07/5/2018 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng các bên không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Anh Dũng phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Ngày 06 tháng 6 năm 2022, Tòa án nhân dân huyện H thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của chị Nguyễn Thị Hà đối với anh Nguyễn Tiến D có nơi cư trú tại Thôn T, xã T, huyện H là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về tố tụng: Anh Nguyễn Tiến D vắng mặt không có lý do, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh Nguyễn Tiến D, bà Giáp Thị Vlà có căn cứ.

Đối với yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L Hội đồng xét xử thấy:

Tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 69/2021/QĐST-HNGĐ ngày 14/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang quyết định chị Là và anh Dũng thuận tình ly hôn; về con chung hai bên thỏa thuận để anh Dũng tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung là cháu Nguyễn Như Quỳnh, sinh ngày 17/3/2016 và cháu Nguyễn Quỳnh Trang, sinh ngày 07/5/2018; vấn đề cấp dưỡng không yêu cầu; về tài sản, công nợ, ruộng đất chị Là và anh Dũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang giải quyết ly hôn và giao con cho anh Dũng nuôi cả hai cháu. Chị Là trình bày do khi đó chị chưa có điều kiện về kinh tế để nuôi hai con chung nên chị đồng ý cho anh Dũng nuôi cả hai con chung. Nhưng quá trình thăm nom con chung sau ly hôn của chị Là không được thăm gặp con thường xuyên do anh Dũng và gia đình anh Dũng gây khó dễ cho chị trong việc thăm gặp con. Nay chị Là có đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, chị xin được nuôi hai con chung, không yêu cầu anh Dũng cấp dưỡng nuôi con, nếu không được nuôi cả hai con chung thì chị xin nuôi cháu Nguyễn Quỳnh Trang, sinh ngày 07/5/2018. Anh Dũng không đồng ý yêu cầu của chị Là và muốn tiếp tục được nuôi dưỡng hai con chung. Qua xác minh tại địa phương và căn cứ vào lời trình bày của 2 bên, Hội đồng xét xử thấy: Chị Là, anh Dũng đều có thu nhập ổn định và có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung. Bản thân anh Nguyễn Tiến D hiện đang làm công việc lái xe đường dài, thu nhập ổn định, tuy nhiên công việc của anh thường xuyên phải đi xa nhà, mọi việc chăm sóc và đưa đón con đi học đều nhờ bố mẹ anh Dũng chăm sóc. Còn chị Nguyễn Thị L hiện nay làm công việc bất động sản, làm trong giờ hành chính, không phải đi xa, thu nhập ổn định, chị xác định có đủ điều kiện về thời gian cũng như kinh tế để chăm sóc con chung. Sau khi ly hôn, trong thời gian anh Dũng nuôi hai con chung thì bản thân chị Là vẫn đến thăm con thường xuyên và quan tâm đến con. Hiện nay, cháu Nguyễn Như Quỳnh đang chuẩn bị lên lớp 1 của Trường Tiểu học xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang, còn cháu Nguyễn Quỳnh Trang hiện nay 4 tuổi đang học trường mẫu giáo, rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Xét về điều kiện chăm sóc con thì hiện nay chị Là có đủ điều kiện, công việc của chị làm tại địa phương, không phải đi làm xa nhà. Hơn nữa các con chung đều là con gái đang phát triển cần được quan tâm thường xuyên và gần gũi của người mẹ. Ngoài ra cả chị Là và anh Dũng đều chưa lập gia đình mới, thì việc mỗi người nuôi và chăm sóc một con chung sẽ tốt hơn và đều có tình thương, trách nhiệm của cả hai bên. Xét nguyện vọng của chị Là là chính đáng, cần chấp nhận yêu cầu của chị Là là có căn cứ. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy, cần giao cháu Nguyễn Quỳnh Trang, sinh ngày 07/5/2018 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con này thay thế Quyết định số 69/2021/QĐST-HNGĐ ngày 14/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang về phần con chung đối với cháu Nguyễn Quỳnh Trang, sinh ngày 07/5/2018.

Vấn đề cấp dưỡng: Chị Là không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của chị Nguyễn Thị L được chấp nhận nên anh Nguyễn Tiến D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81, Điều 82, Điều 83; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 84 - Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:

+/Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L

Giao cháu Nguyễn Quỳnh Trang, sinh ngày 07/5/2018 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng;

Vấn đề cấp dưỡng các bên không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con này thay thế Quyết định số 69/2021/QĐST-HNGĐ ngày 14/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang về phần con chung đối với cháu Nguyễn Quỳnh Trang, sinh ngày 07/5/2018.

+/Về án phí dân sự sơ thẩm:

Anh Nguyễn Tiến D phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự. Hoàn trả lại cho chị Nguyễn Thị L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tiền số 0008087 ngày 06/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bắc Giang.

+/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

+/ Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ