vanban.org

Bản án 52/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Áp dụng Điều 26; Điều 35 và Điều 39; Điều 147; Điều 184; Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 463; Điều 466; Điều 469; Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 37 Luật hôn nhân và Gia đình; Điềm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. [2]. Xử: Buộc ông Dương Mạnh Th và bà Chu Thị H phải trả cho bà Chu Thị L số tiề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "bà L kiện đòi tiền ông Th"
  • Tòa quyết gì? [1]. Áp dụng Điều 26; Điều 35 và Điều 39; Điều 147; Điều 184; Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52 /2022/ DS-ST
Ngày: 22 /09/2022
V/v:“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn La, bà Ngô Thị Mai

.

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạng Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Đồng Thị Toàn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22/09/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 101/2022/TLST-DS ngày 18/08/2022 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2022/QĐXX-ST ngày 12 tháng 09 năm 2022giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn : Bà Chu Thị L, sinh năm 1963.

Đia chỉ: TDP Số 3, thị trấn K , huyện C, tỉnh Bắc Giang.

+ Bị đơn: Ông Dương MạnhTh, sinh năm 1957.

Địa chỉ: TDP Số 1, thị trấn K , huyện C, tỉnh Bắc Giang

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Chu Thị H, sinh năm 1957.

Địa chỉ: TDP Số 1, thị trấn K , huyện C, tỉnh Bắc Giang

( Các đương sự đều có mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn bà Chu Thị L trình bày: Do có mối quan hệ quen biết với ông Th, bà H nên bà có cho ôngTh, bàH vay số tiền 490.000.000đồng để kinh doanh, cụ thể :

Ngày 17/11/2020 âm lịch cho vay số tiền 130.000.000đồng

Ngày 20/11/2020 âm lịch cho vay số tiền 360.000.000đồng,

Quá trình vay tiền thì vợ chồng ôngTh đã thanh toán được cho bà số tiền 270.000.000đồng, hiện ông Th, bà H còn nợ bà số tiền 220.000.000đồng, khi vay tiền ông Th đặt vấn đề vay tiền, viết giấy và nhận tiền, mục đích vay tiền để kinh doanh, vợ chồng ông Th có kinh doanh tạp hoá tại gia đình, ngoài kinh doanh tạp hoá thì bà H, ông Th không làm việc gì khác, khi vay không có thoả thuận lãi xuất. Quá trình vay nợ bà có nhiều lần đến đòi bà H, ông Th số tiền còn nợ 220.000.000đồng nhưng ông Th, bà H nói khi nào có tiền sẽ trả hoặc bán nhà sẽ trả tiền. Quá trình vay tiền chưa khi nào ông Th nói vay tiền để đưa cho con trai kinh doanh. Nay bà khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Th phải thanh toán trả cho bà số tiền 220.000.000đồng nợ gốc, không yêu cầu tiền lãi.

* Bị đơn ông Dương Mạnh Th trình bày: Ông và bà L có quan hệ hàng xóm, do cần tiền để cho con trai kinh doanh nên ông có vay tiền của bà L tổng số tiền là 490.000.000đồng, đã trả được số tiền 270.000.000đồng, hiện còn nợ 220.000.000đồng. Ông là người viết giấy vay tiền, trong giấy vay ghi nội dung để kinh doanh, khi vay không ấn định thời hạn trả, hiện ông bà có kinh doanh của hàng tạp hoá, khi vay tiền thì bà H không biết, tại bản tự khai bổ sung ngày 25/08/2022 ông Th có trình bày: Ông xin thay đổi lời khai, mục đích ông vay tiền để ông kinh doanh của hàng của ông ( cửa hàng đồ chơi và tạp hoá) chứ không phải ông đưa tiền cho con trai kinh doanh. Nay bà L khởi kiện ông đồng ý nhưng không có điều kiện trả ngay và xin được trả dần.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Chu Thị H trình bày: Bà là vợ ôngTh, gia đình bà là hàng xóm với bà L, bà không biết việc vay nợ giữa ôngTh với bà L, thời gian gần đây bà mới biết, bà và ông Th ở cùng nhau và kinh doanh cửa hàng tạp hoá, ông Th vay tiền để đưa cho con trai kinh doanh. Bà không vay nợ bà L nên bà không có trách nhiệm trả nợ cho bà L.

Quá trình giải quyết vụ án Toà án có làm việc với Phòng Tài chính kế hoạch của UBND huyện C thì được cung cấp thông tin có hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh mang tên ông Dương MạnhTh, cụ thể: Tên hộ kinh doanh: Dương MạnhTh, sinh ngày 01/06/1957; Địa chỉ trụ sở hộ kinh doanh: Thị trấn K , huyện C, tỉnh Bắc Giang; Đăng ký ngành nghề kinh doanh: Vận tải hàng hoá ( BKS: 98K – 6347); Số giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh: 20F8 006502 do UBND huyện Lạng Giang cấp ngày 26/04/2012.

Quá trình giải quyết vụ án bà L có đơn xin từ chối hoà giải, bà H, ôngTh có ý kiến xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay, Bà L trình bày: Bà vẫn giữa nguyên yêu cầu khởi kiện, trước 02 khoản nợ bà khởi kiện thì trước đó vợ chồng ôngTh có đến vay tiền, cả hai cùng ký vào giấy vay nợ, sau đó do tin tưởng nên bà chỉ yêu cầu ôngTh ký, khi đến đòi tiền bà H có biết và cũng đã cùng ông Th khất nợ với bà. Nay bà vẫn yêu cầu ôngTh, bà H phải trả bà số nợ gốc.

Bị đơn ông Th có ý kiến: Ngoài bán hàng tạp hoá ông còn đi sấy vải, số tiền vay của bàL là để làm sấy vải và kinh doanh do dịch bệnh, làm ăn khó khăn, nên không có tiền trả.Trong gia đình ông là người lo kinh tế, bà H chỉ ở nhà bán hàng. Số tiền vay nợ ông sử dụng để kinh doanh, không liên quan đến con trai ông.Trước đó ông và bà H có vay tiền của bà L nhưng số tiền nợ đó đã trả rồi. Nay vợ chồng ông đồng ý trả bà L tiền nhưng xin trả dần mỗi tháng trả vài triệu đồng.

Người liên quan bà H có ý kiến: Bà đồng ý với lời trình bày của ôngTh tại Toà án, trong gia đình ông Th là người lo toan kinh tế, chi tiêu trong gia đình, bà chỉ ở nhà bán hàng, bà có biết việc bà L đến đòi tiền ôngTh, bà và ông Th cũng đã khất nợ bàL cho trả dần. Nay bà L khởi kiện bà đề nghị cho bà và ôngTh trả dần hàng tháng, mỗi tháng trả khoảng vài triệu đồng.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình điều tra giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chu Thị L: Buộc vợ chồng chị ông Dương Mạnh Th và bà Chu Thị H phải trả cho bà L số tiền là 220.000.000 (Hai trăm hai mươi triệu đồng).

Về án phí: Bà L, ông Th, bà H không chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa sau khi tiến hành nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

.Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ giữa bà Chu Thị L và ông Dương MạnhTh là quan hệ dân sự giữa cá nhân với cá nhân, các bên đã không tự giải quyết được tranh chấp phát sinh, nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện theo thủ tục tại Tòa án. Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật và thẩm quyền được qui định tại các Điều 26; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

.Về thời hiệu khởi kiện và quan hệ pháp luật tranh chấp thì thấy:

Ngày 17/11/2020 âm lịch bà L có cho ông Th vay số tiền 130.000.000đồng và ngày 20/11/2020 âm lịch bà L có cho ông Th vay số tiền 360.000.000đồng.Tổng số tiền vay là 490.000.000đồng,quá trình vay nợ ông Th đã trả được 270.000.000đồng, số tiền còn nợ là 220.000.000đồng, khi viết giấy các bên không thỏa thuận ngày trả không thỏa thuận lãi xuất, tại Tòa án các bên đều xác nhận hiện ông Th còn nợ bà L số tiền còn lại là 220.000.000đồng, ngày 18/08/2022 bà L nộp đơn khởi kiện ra Tòa án, yêu cầu ôngTh, bà H phải trả số tiền 220.000.000đồng tiền nợ. Đây là "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản", theo quy định tại khoản 1 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự, thì thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Ngày 17/11/2020 âm lịch và ngày 20/11/2020 âm lịch bà L có cho ông Th vay tổng số tiền vay là 490.000.000đồng, quá trình vay nợ ông Th đã trả được 270.000.000đồng, ôngTh là người viết giấy, ký nhận vay và nhận tiền với bà L, mục đích vay để kinh doanh, quá trình giải quyết vụ án ông Th cũng thừa nhận có vay của bà L với số tiền còn nợ lại là 220.000.000đồng, nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn chưa trả được và nay xin được trả dần, lời khai của ông Th phù hợp với lời khai của bà L, như vậy có thể khẳng định việc ông Th có nợ bà L số tiền 220.000.000đồng.Tại giấy vay tiền mục đích vay để kinh doanh, quá trình làm việc ông Th có trình bày ông vay tiền để ông kinh doanh của hàng tạp hoá và ông đi sấy vải, ông và vợ cùng kinh doanh, ông là người cầm kinh tế trong gia đình, bà H và ông không có làm gì khác ngoài kinh doanh để đảm bảo cuộc sống, bà H cũng xác nhận bà và ông Th có kinh doanh, toàn bộ việc kinh doanh do ông Th quyết định, bà cũng đồng ý cùng ôngTh trả nợ cho bà L nhưng xin trả dần mỗi tháng vài triệu đồng, tại biên bản do Phòng Tài chính - Kế hoạch UBND huyện Lạng Giang cung cấp: Ông Dương Mạnh Th là chủ hộ kinh doanh, căn cứ vào Điều 37 Luật Hôn nhân gia đình có quy định về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng “ Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đâu: Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình” việc vay tiền của ôngTh để kinh doanh, mục đích kinh doanh để đáp ứng đảm bảo cuộc sống của gia đình, bà H cũng đồng ý cùng ôngTh trả nợ, nên bà H có nghĩa vụ liện đới cùng với ông Th thanh toán số nợ cho bà L. Nên yêu cầu khởi kiện của bà L yêu cầu ông Th, bà H phải trả tiền nợ gốc là có căn cứ được chấp nhận phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 463; Điều 466 và Điều 469 Bộ luật dân sự.

. Về án phí: Bà Chu Thị H và ông Dương Mạnh Th trên 60 tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

Bà Chu ThịL không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Áp dụng Điều 26; Điều 35 và Điều 39; Điều 147; Điều 184; Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 463; Điều 466; Điều 469; Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 37 Luật hôn nhân và Gia đình; Điềm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[2]. Xử: Buộc ông Dương Mạnh Th và bà Chu Thị H phải trả cho bà Chu Thị L số tiền 220.000.000đồng. ( Hai trăm hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi xuất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

[3]. Về án phí: Ông Dương Mạnh Th và bà Chu Thị H không phải chịu án phí DSST.

Bà Chu Thị L không phải chịu án phí. Hoàn trả bà L số tiền 5.500.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0013073 ngày 18 tháng 08 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

[4]. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự .

Án xử công khai sơ thẩm./.

Cỡ chữ