vanban.org

Bản án 52/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Quận 4, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/05/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Bản án"
  • Tòa quyết gì? Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 52/2022/DS-ST

Ngày: 25/05/2022

V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có : Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Bảo Trân Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Bích 2. Bà Đinh Kim Hoàng Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Chi - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên. Ngày 25 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 91/2021/DSST ngày 12/5/2021 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2022/QĐXX-ST ngày 4 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 227/2022/QĐST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự: Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S. Trụ sở: A Nam Kỳ Khởi N, Phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – chức vụ: Tổng giám đốc Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Bích Thanh T- nhân viên (Giấy ủy quyền số 487/2021/UQ-TTT ngày 16/4/2021) Bị đơn: Bà Phạm Hồng H, sinh năm 1967 Ñòa chæ: B Nguyễn Thần H, Phường 18, Quaän 4, TP. Hồ Chí Minh. (Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Taïi ñôn khôûi kieän ñeà ngaøy 16/4/2021 cuûa Ngân hàng thương mại cổ phần S vaø caùc lôøi khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cuûa ngöôøi ñaïi dieän uûy quyeàn là bà Nguyễn Bích Thanh T trình bày: Ngày 08/11/2007, bà Phạm Hồng H có ký với ngân hàng TMCP S (gọi tắt là ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 486265 – 6677 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Áp dụng lãi suất theo từng thời kỳ, cụ thể: - 131/TB-TTT ngày 29/05/2008: 1,5%/ tháng - 164/TB-TTT ngày 20/06/2008: 1,75%/ tháng

- 350/TB-TTT ngày 21/10/2008: 1,625%/ tháng - 384/TB-TTT ngày 05/11/2008: 1,5%/ tháng - 4709/TB-TTT ngày 24/11/2008: 1,375%/ tháng - 653/TB-TTT ngày 04/12/2008: 1,25%/ tháng - 697/TB-TTT ngày 22/12/2008: 1,0625%/ tháng - 65/TB-TTT ngày 31/01/2009: 1,9%/ tháng - 209/TB-TTT ngày 10/03/2009: 1,75%/ tháng - 1439/TB-TTT ngày 19/08/2009: 1,3%/ tháng - 4183/TB-TTT ngày 31/08/2009: 1,6%/ tháng Căn cứ thu nhập của bà H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 9.500.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 20/01/2010 bà H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 7.000.000 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 21/01/2010 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 10.319.984 đồng sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Lãi quá hạn = 150% x lãi trong hạn = 2.4%/ tháng. Sau đó, bà H thanh toán thêm 4.000.000 đồng được trừ vào gốc trước. Tính từ ngày 21/01/2010 đến ngày 25/5/2022, bà H còn nợ Ngân hàng các khoản sau: - Nợ gốc: 6.319.984 đồng - Tổng lãi: 23.445.248 đồng (Tính từ ngày 21/01/2010 đến ngày 25/5/2022), trong đó bao gồm lãi trong hạn là 15.630.165 đồng và lãi quá hạn là 7.815.083 đồng - Tổng cộng: 29.765.232 đồng Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với và Hạnh, yêu cầu bà H có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để bà H trả nợ, tuy nhiên bà H vẫn không thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại hợp đồng đã ký. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S đề nghị Tòa án nhân dân Quận 4 giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn: 1. Buộc bà Phạm Hồng H phải trả ngay cho Ngân hàng số tiền nợ tính từ ngày 21/01/2010 đến ngày 25/5/2022 là 29.765.232 đồng trong đó bao gồm: - Nợ gốc: 6.319.984 đồng - Tổng lãi: 23.445.248 đồng (Tính từ ngày 21/01/2010 đến ngày 25/5/2022), trong đó bao gồm lãi trong hạn là 15.630.165 đồng và lãi quá hạn là 7.815.083 đồng 2. Bà Phạm Hồng H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 26/5/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Nguyên dơn chỉ yêu cầu cá nhân bà Phạm Hồng H phải trả toàn bộ số nợ trên chứ không yêu cầu người liên quan hay cá nhân khác phải có trách nhiệm liên đới trả nợ với bà Phạm Hồng H. Tại phiên tòa: Bị đơn bà Phạm Hồng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Bích Thanh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: xét thấy, Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 486265 – 6677 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) được xác lập ngày 08/11/2007 giữa Ngân hàng TMCP S và bà Phạm Hồng H thì ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ nhưng bà H vẫn chưa thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán nợ nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở vì bà H đã vi phạm nghĩa vụ, thời hạn thanh toán theo hợp đồng đã ký kết. Cho nên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc 6,319,984 đồng và lãi theo như hợp đồng đã ký kết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định: Về thủ tục tố tụng: Xét, Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu bà Phạm Hồng H có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 486265 – 6677 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) ngày 08/11/2007 với mục đích sử dụng vốn là tiêu dùng, như vậy đây là vụ án dân sự; bà Phạm Hồng H có nơi cư trú tại Quận 4, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Bị đơn là bà Phạm Hồng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Bích Thanh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo thủ tục chung. Về yêu cầu khởi kiện:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện và chứng cứ do Ngân hàng TMCP S xuất trình là bản chính Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 486265 – 6677 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) ngày 08/11/2007 có chữ ký của bà Phạm Hồng H có cơ sở xác định: bà Phạm Hồng H có ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 08/11/2007 với Ngân hàng TMCP S với nội dung đúng như nguyên đơn trình bày. Việc thỏa thuận giữa các bên là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010. Quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 20/01/2010 bà H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 7.000.000 đồng, sau đó bà H có thanh toán thêm 4.000.000 đồng được trừ vào gốc trước. Trong quá trình vay vốn, bà Phạm Hồng H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, ngày 21/01/2010 Ngân hàng TMCP S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Như vậy, bà Phạm Hồng H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền vay và lãi hàng tháng mà các bên đã thỏa thuận tại Điều 2 của Hợp đồng nêu trên, cho nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà H thanh toán toàn bộ số tiền nợ với thời hạn trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở để chấp nhận Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn; Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; - Căn cứ vào Điều 290, Điều 471, Điều và 474 của Bộ luật dân sự năm 2005; - Căn cứ vào Điều 468 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; - Căn cứ khoản 2 Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010. -Căn cứ vào Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. - Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Tuyên xử: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín. Buộc bà Phạm Hồng H có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ số tiền phát sinh từ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 486265 – 6677 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) ngày 08/11/2007 là: 29.765.232 đồng trong đó bao gồm: Nợ gốc: 6.319.984 đồng, nợ lãi (tính từ ngày 21/01/2010 đến ngày

25/5/2022): 23.445.248 đồng, trong đó bao gồm lãi trong hạn là 15.630.165 đồng và lãi quá hạn là 7.815.083 đồng Thời hạn thanh toán: một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật Kể từ ngày 26/5/2022 trở đi bà Phạm Hồng H còn phải trả lãi tiếp tục phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 486265 – 6677 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) ngày 08/11/2007 cho đến khi bà Hạnh thực trả hết nợ vốn cho Ngân hàng TMCP S. Trường hợp bà Phạm Hồng H vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nguyên đơn được quyền có đơn yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành án. Thi haønh taïi Cô quan thi haønh aùn daân söï coù thaåm quyeàn 2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Hồng H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.488.262 (một triệu bốn trăm tám mươi tám hai trăm sáu mươi hai) đồng. Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí là 693.000 (sáu trăm chín mươi ba nghìn) đồng cho Ngân hàng TMCP S đã nộp theo biên lai số AA/2019/0036402 ngày 06/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4. 3. Về quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân và quyền kháng cáo của các đương sự: Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 có quyền kháng nghị, Ngân hàng TMCP S có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; bà Phạm Hồng H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ