vanban.org

Bản án 52/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng Tuyên án 30/09/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty TNHH Mua bán nợ G về việc: “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn là ông Đặng Hữu Tr.

Buộc ông Đặng Hữu Tr phải trả cho Công ty TNHH Mua bán nợ G số tiền: 18.277.196đ (Mười tám triệu, hai trăm bảy mươi bảy nghìn, một trăm chín mươi sáu đồng); trong đó nợ gốc tính đến ngày 12/9/2020 là: 13.036.563 đồng, tiền nợ lãi tính đến ngày 12/9/2020 là 5.240.633 đồng Kể từ ngày bản án có hiệu lự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "vụ án giữa nguyên đơn là Công ty TNHH MUa bán nợ G với bị đơn là ông Đặng Hữu Tr"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty TNHH Mua bán nợ G về việc: “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn là ông Đặng Hữu Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2022/DS-ST
Ngày: 30-09-2022
V/v: “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đức Thiện

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Tấn Bôn

Ông Nguyễn Văn Quyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nghiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 93/2022/TLST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2022 về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2022/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 77/2022/QĐST-DS ngày 24 tháng 9 năm 2022 và Thông báo số 93/TB-TA ngày 27 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Công ty TNHH Mua bán nợ G; Địa chỉ: đường D1, phường L, thành phố T, thành phố H; Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Huyền Tr; chức danh: giám đốc. Người được ủy quyền: Ông Đinh Quốc T, sinh năm 1979; Địa chỉ: Hồ Phi T, phường H, quận C, thành phố Đ (Theo Văn bản ủy quyền số 01/UQTA-GLX.22 ngày 01/04/2022 của giám đốc Công ty TNHH Mua bán nợ G và Văn bản ủy quyền số 01/2022/UQ-SL ngày 01/7/2022 của Giám đốc Công ty Luật TNHH MTV S). Ông T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

+ Bị đơn: Ông Đặng Hữu Tr, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện V, thành phố Đ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 01/7/2022, biên bản lấy lời khai ngày 05/9/2022, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Đinh Quốc T trình bày:

Vào ngày 07/03/2018 ông Đặng Hữu Tr có ký hợp đồng tín dụng số 20180308-0002369 với Công ty tài chính TNHH Ngân hàng V vay số tiền 18.990.000đ (Mười tám triệu, chín trăm chín mươi nghìn đồng) với lãi suất thỏa thuận 4,42%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng ông Đặng Hữu Tr có trách nhiệm thanh toán số tiền 34.615.196 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 30 tháng; 29 tháng đầu, mỗi tháng trả 1.155.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.120.196 đồng. Bắt đầu từ ngày 12/04/2018. Thực hiện hợp đồng, khách hàng đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V 14 lần với tổng số tiền đã trả 16.338.000 đồng. Kể từ ngày 24/9/2019 đến nay, ông Đặng Hữu Tr không thanh toán thêm bất cứ khoản nào dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp lần nhắc nhở. Ngày 29/3/2021, khoản nợ của ông Đặng Hữu Tr đã được Công ty tài chính TNHH MTV N (Nay là Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V) chuyển nhượng cho Công ty TNHH Mua bán nợ G theo Hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-GALAXY-21-003”. Là đại diện theo uỷ quyền của Công ty TNHH Mua bán nợ G, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đặng Hữu Tr phải trả cho Công ty TNHH Mua bán nợ G số tiền 18.277.196đ (Mười tám triệu, hai trăm bảy mươi bảy nghìn, một trăm chín mươi sáu đồng); trong đó nợ gốc tính đến ngày 12/9/2020 là: 13.036.563 đồng, tiền nợ lãi tính đến ngày 12/9/2020 là 5.240.633 đồng và không yêu cầu tính lãi từ ngày 13/10/2020 đến nay.

* Bị đơn là ông Đặng Hữu Tr không giao nộp tài liệu chứng cứ và cũng không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng phát biểu:

* Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành và thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

* Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463 và 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 91 và Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty TNHH Mua bán nợ G về việc: “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn là ông Đặng Hữu Tr, buộc ông Đặng Hữu Tr phải trả cho Công ty TNHH Mua bán nợ G số tiền: 18.277.196đ, trong đó nợ gốc tính đến ngày 12/9/2020 là: 13.036.563 đồng, tiền nợ lãi tính đến ngày 12/9/2020 là 5.240.633 đồng.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc ông Đặng Hữu Tr phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử xét thấy:

Về pháp luật áp dụng: Căn cứ vào Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20180308-0002369 ngày 07/03/2018 của ông Nguyễn Đặng Hữu Tr về việc đề nghị Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V cho vay tiêu dùng. Ngày 30/3/2021 và Công ty TNHH Mua bán nợ G có lập hợp đồng mua bán nợ, trong đó có khoản nợ của ông Đặng Hữu Tr. Hợp đồng được ký kết giữa Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V với ông Tr là vay tài sản được quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các bên có tranh chấp, Công ty Mua bán nợ G khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đặng Hữu Tr phải trả nợ gốc và nợ lãi phát sinh. Vì vậy Tòa án xem xét áp dụng Bộ luật Dân sự và Luật các tổ chức tín dụng để giải quyết vụ án.

Về thẩm quyền: Nguyên đơn là Công ty TNHH Mua bán nợ G khởi kiện tranh chấp về hợp đồng tín dụng với bị đơn là ông Đặng Hữu Tr có địa chỉ tại thôn L, xã T, huyện V, thành phố Đ. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Đinh Quốc T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là ông Đặng Hữu Tr mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án với sự vắng mặt của đại diện nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung: Theo Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20180308-0002369 ngày 07/03/2018 giữa ông Đặng Hữu Tr với Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V, Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V đã cho ông Tr vay tiền, mục đích để tiêu dùng cá nhân đã tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên. Ngày 29/3/2021, khoản nợ của ông Đặng Hữu Tr đã được Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V (Nay là Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V) chuyển nhượng cho Công ty TNHH Mua bán nợ G theo Hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-GALAXY-21-003. Theo đại diện nguyên đơn trình bày, trong quá trình sử dụng vốn vay, ông Tr đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán như đã cam kết theo Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20180308-0002369 ngày 07/03/2018. Đại diện nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc ông Đặng Hữu Tr phải trả số tiền 18.277.196đ (Mười tám triệu, hai trăm bảy mươi bảy nghìn, một trăm chín mươi sáu đồng); trong đó nợ gốc tính đến ngày 12/9/2020 là: 13.036.563 đồng, tiền nợ lãi tính đến ngày 12/9/2020 là 5.240.633 đồng và không yêu cầu tính lãi từ ngày 13/9/2020 đến nay.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Do bị đơn là ông Đặng Hữu Tr vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, nợ lãi, không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán như đã cam kết, bị đơn là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết, do vậy yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến 12/9/2020 là 18.277.196đ là có căn cứ, phù hợp với Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20180308-0002369 ngày 07/03/2018, phù hợp với Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự; Điều 91 và Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng.

Do đó, cần buộc ông Đặng Hữu Tr phải trả cho Công ty TNHH Mua bán nợ G số tiền 18.277.196đ (Mười tám triệu, hai trăm bảy mươi bảy nghìn, một trăm chín mươi sáu đồng); trong đó nợ gốc tính đến ngày 12/9/2020 là: 13.036.563 đồng, tiền nợ lãi tính đến ngày 12/9/2020 là 5.240.633 đồng.

Bị đơn là ông Đặng Hữu Tr không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét đến ý kiến, yêu cầu của bị đơn.

Án phí dân sự sơ thẩm, ông Đặng Hữu Tr phải chịu theo giá ngạch 18.277.196đ đồng x 5% = 913.858 đồng.

Hoàn trả cho Công ty TNHH Mua bán nợ G số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào Điều 463 và 466 của Bộ luật Dân sự.

- Căn cứ vào Điều 91 và Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng.

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty TNHH Mua bán nợ G về việc: “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn là ông Đặng Hữu Tr.

1. Buộc ông Đặng Hữu Tr phải trả cho Công ty TNHH Mua bán nợ G số tiền: 18.277.196đ (Mười tám triệu, hai trăm bảy mươi bảy nghìn, một trăm chín mươi sáu đồng); trong đó nợ gốc tính đến ngày 12/9/2020 là: 13.036.563 đồng, tiền nợ lãi tính đến ngày 12/9/2020 là 5.240.633 đồng

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Đặng Hữu Tr phải chịu 913.858đ (Chín trăm mười ba nghìn, tám trăm năm mươi tám đồng).

3. Hoàn trả cho Công ty TNHH Mua bán nợ G số tiền 457.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0004517 ngày 04 tháng 8 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, thành phố Đ.

4. Về quyền kháng cáo: Đại diện nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận (hoặc niêm yết) trích sao bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ