vanban.org

Bản án 52/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 21/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC KẠN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2021/HS-ST
Ngày 21/7/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tạ Văn Tư

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Văn Liêm

2. Ông Nông Hữu Thái

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Lộc - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Đỗ Mai Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2021, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2021/HSST, ngày 25 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình G, sinh ngày 10/9/1989; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: thôn B, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H con bà Trần Thị H1; Có vợ là Hoàng Thị C và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

*Bị hại: Chị Phí Thị M sinh năm 1992, Trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 31/3/2021, Nguyễn Đình G một mình điều khiển xe mô tô từ nhà đến cửa hàng tạp hóa NQ thuộc Tổ B, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn để nhập rau, củ, quả về nhà bán. Sau khi mua đồ xong, G ra thanh toán tiền cho chị N là chủ cửa hàng tạp hóa; sau đó G lại quay vào trong để mua thêm đồ. Khi vào bên trong cửa hàng, G nhìn thấy trên bàn cạnh chỗ để hàng có để một chiếc túi xách giả da màu đen, túi không kéo khóa, trong túi xách có để 02 (hai) chiếc điện thoại (01 chiếc là điện thoại Iphone 7 Plus, màu đỏ và 01 chiếc là điện thoại Oppo F9, màu xanh đen) đang cắm sạc của chị Phí Thị M là nhân viên bán hàng tại cửa hàng. Quan sát xung quanh không thấy có người để ý nên G đã nảy sinh ý định và thực hiện hành vi trộm cắp 02 (hai) chiếc điện thoại. Sau khi lấy được 02 (hai) chiếc điện thoại, G cất vào túi áo khoác phía trên bên trái G đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đến khu vực đèn xanh, đỏ trước trung tâm thương mại Bắc Kạn, G dừng xe lấy hai chiếc điện thoại vừa trộm cắp được ra kiểm tra. Lúc này G mới biết trong 02 (hai) chiếc điện thoại G vừa lấy trộm, có 01 chiếc là điện thoại Iphone 7 Plus, màu đỏ và 01 chiếc là điện thoại Oppo F9, màu xanh đen; G đã tắt nguồn chiếc điện thoại Iphone, còn chiếc điện thoại Oppo thì đã tắt nguồn từ trước. G cất 02 (hai) chiếc điện thoại vào túi áo rồi quay lại cửa hàng chị N lấy đồ và đi về nhà. Khi về nhà G đã tháo sim của chiếc điện thoại Iphone ra rồi đem cất giấu cả 02 (hai) chiếc điện thoại trộm cắp được trên nóc hòm để thóc ở nhà G.

Sau khi phát hiện bị mất 02 (hai) chiếc điện thoại, chị Phí Thị M đã trình báo sự việc với Cơ quan Công an yêu cầu giải quyết.

Qua điều tra truy xét xác định được Nguyễn Đình G là đối tượng nghi vấn, Cơ quan điều tra triệu tập G đến làm việc. Ngày 06/4/2021, Nguyễn Đình G đã đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản tại cửa hàng tạp hóa NQ tại Tổ B, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn vào ngày 31/03/2021. Đồng thời, G đã giao nộp lại 02 (hai) chiếc điện thoại cho Cơ quan điều tra để điều tra, giải quyết theo quy định pháp luật.

Ngày 6/4/2021 Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Kạn tiến hành khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, kết quả phù hợp với lời khai của Nguyễn Đình G về diễn biến, hành vi phạm tội ngày 31/03/2021.

Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 12/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Bắc Kạn kết luận: “1 (Một) điện thoại Iphone 7 Plus, 128GB, màu đỏ đã qua sử dụng, điện thoại có 01 (Một) ốp bằng nhựa dẻo trong suốt, viền trên và viền dưới màu vàng có giá trị là 5.710.000đ (Năm triệu bảy trăm mười nghìn đồng) cả ốp; 1 (Một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO F9 64GB, màu xanh đen đã qua sử dụng có giá trị là 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản là 8.210.000đ (Tám triệu hai trăm mười nghìn đồng)”.

Quá trình điều tra, truy tố bị can Nguyễn Đình G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, lời khai của bị can phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Tại Cáo trạng số 36/CT-VKSTPBK ngày 25/6/2021 của VKSND thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo Nguyễn Đình G về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:

*Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình G phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

- Áp dụng: điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

+ Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đình G từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi tư) tháng. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

*Về trách nhiệm dân sự: Không.

*Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO R11t, màn hình cảm ứng, trong máy điện thoại gắn thẻ sim và sim; máy cũ đã qua sử dụng, màn hình bị vỡ, rạn nứt.

*Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Đình G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Ngày 31/3/2021, tại cửa hàng tạp hóa NQ thuộc Tổ B, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, Nguyễn Đình G đã có hành vi trộm cắp 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus và 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO F9 của chị Phí Thị M. Tổng trị giá của 02 (hai) chiếc điện thoại mà G đã trộm cắp là 8.210.000đ (Tám triệu hai trăm mười nghìn đồng).

Hành vi nêu trên của Nguyễn Đình G đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng …thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Cáo trạng số 36/CT-VKSTPBK ngày 25/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là cố ý, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác; làm mất trật tự trị an tại địa phương, cần được xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người phạm tội đầu thú và bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm, có cơ hội được tiếp tục lao động làm ăn lương thiện nên cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đảm bảo sự công bằng và khoan hồng của pháp luật.

Hình phạt bổ sung : Xét bị cáo gia đình là hộ cận nghèo nên không áp dụng.

Về vật chứng trong vụ án: Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Kạn đã trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đỏ; 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO F9, màu xanh, đen cho chủ sở hữu hợp pháp chị Phí Thị M là đúng quy định.

- Đối với 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO R11t, màn hình cảm ứng, trong máy điện thoại gắn thẻ sim và sim; máy cũ đã qua sử dụng, màn hình bị vỡ, rạn nứt do bị cáo tự nguyện giao nộp ngày 6/4/2021, không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt là phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Gia đình bị cáo là hộ cận nghèo và bị cáo có đơn xin miễn án phí nên không áp dụng.

Vì các lẽ trên;

QuyÕt ®Þnh:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình G phạm tội "Trộm cắp tài sản".

*Áp dụng: khoản 1 Điều 173; Điều 65; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình G 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO R11t, màn hình cảm ứng, trong máy điện thoại gắn thẻ sim và sim; máy cũ đã qua sử dụng, màn hình bị vỡ, rạn nứt.

(Tình trạng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/7/2021 giữa Công an thành phố Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn).

3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo; Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ