vanban.org

Bản án 52/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. An Dương, TP. Hải Phòng Tuyên án 14/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Đinh Văn C phải bồi thường cho chị Chu Thị N số tiền 13.500.000đồng (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng). Đối với khoản tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại nêu trên, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN DƯƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2021/HS-ST
Ngày 14- 7- 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Văn Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Văn Thư

Ông Vũ Văn Thi

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Chi - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 7 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2021/HSST-QĐ ngày 30 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

Đinh Văn C, sinh ngày 06 tháng 3 năm 1988 tại Tuyên Quang. Nơi cư trú: Thôn A, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn K và bà Phạm Thị T; có vợ là Đào Thị N (đã ly hôn) và 03 con. Tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ ngày 05/11/2020, chuyển tạm giam ngày 12/11/2020; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn C: Bà Đoàn Thị Huế - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng, có mặt

- Bị hại: Chị Chu Thị N, sinh năm 1981; trú tại: Thôn Đồng Phạ, xã Kiến Thiết, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; có mặt.

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị T, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Văn C và chị Chu Thị N, sinh năm 1981, ĐKTT: Thôn Đ, xã K, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang có mối quan hệ yêu nhau từ năm 2018 đến đầu năm 2020 thì chấm dứt. Do vẫn muốn níu kéo tình cảm nên tối ngày 20/10/2020 C gọi điện thoại hẹn gặp chị Chu Thị N nhưng chị N không đồng ý. Khoảng 20 giờ cùng ngày, C đến trước cổng công ty Green Words tại khu công nghiệp Tràng Duệ - nơi chị N làm việc để chờ gặp chị N. Chị N ra cổng nhìn thấy C nên không dám về phòng trọ của mình mà đi đến phòng trọ của bạn là chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1978 ở thôn Đ, xã H, huyện An Dương, Hải Phòng. C đi theo chị N đến cổng làng thôn Đồng Xuân thì dựng xe mô tô lấy trong cốp xe 01 con dao (C vẫn thường để trong cốp để phòng thân) giấu vào túi quần sau và đi bộ vào phòng trọ của chị C. Tại đây, C yêu cầu chị N dẫn về phòng trọ của chị N để nói chuyện nhưng chị N không đồng ý. Ngay lúc đó điện thoại của chị N đổ chuông do có người gọi đến, C giật điện thoại của chị N, chị N đòi nhưng C không trả. C nhìn thấy trong túi áo khoác của chị N có chìa khóa xe mô tô, C thò tay vào lấy nhưng chị N giữ lại khiến hai bên giằng co. C không lấy được chìa khóa xe mô tô của chị N nên đã rút con dao từ trong túi quần giơ ra về phía chị N và nói: “Nếu chết thì cùng chết ở đây”. Lúc này thấy C có dao giơ về phía mình nên chị N sợ hãi không đòi điện thoại nữa và ngồi im. Chị C hô hoán chủ nhà trọ đuổi C ra ngoài. C đi ra ngoài và dắt theo chiếc xe mô tô BKS 22B2-31291 của chị N đi. Do C vẫn cầm dao nên chị N sợ hãi không dám ngăn cản. C dắt xe ra cổng làng, giựt đứt dây điện ổ khóa xe, nối lại và nổ máy đi về khu nhà trọ tại thôn Hoàng Lâu, xã Hồng Phong, An Dương, Hải Phòng (là khu trọ cũ C và chị N ở cùng nhau). C đi bộ quay lại cổng làng thôn Đồng Xuân lấy xe mô tô của C điều khiển đi đến khu nhà trọ cũ. C cậy cốp xe mô tô để lấy chiếc thẻ ATM của chị N, trong thẻ có số tiền 17.158.360đồng, C rút số tiền 15.000.000đồng. Chiếc điện thoại C mở mật khẩu xem dữ liệu hình ảnh thì thấy ảnh của chị N chụp với người yêu mới nên đã bực tức đập vỡ vứt tại khu vực cầu Niệm (hiện không thu hồi được). C điều khiển xe mô tô của C về nhà ở Tuyên Quang, chị N gọi điện thoại đòi xe và điện thoại thì C thông báo để xe của chị N tại khu trọ cũ. Cùng ngày chị N trình báo Công an xã Hồng Phong về nội dung vụ việc.

Vật chứng thu giữ: 01 con dao nhọn bằng kim loại màu trắng dài 25cm, lưỡi dao nhọn, bản rộng 2,5cm, cán dao được bọc bằng nilong màu hồng, 01 xe mô tô BKS 22B2-31291, 01 thẻ ATM mang tên Chu Thị N, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh đen, màn hình không còn, ốp bị vỡ vụn (đã hỏng không sử dụng được thu giữ tại nơi ở của C); 01 USB chứa file dữ liệu video ghi nhận hình ảnh Đinh Văn C rút tiền của chị N tại máy ATM.

Theo kết luận định giá tài sản ngày 01/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện An Dương kết luận: Chiếc xe mô tô BKS 22B2-31291 C chiếm đoạt của chị N có giá trị 13.500.000đồng. Chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo Reno4 Pro C chiếm đoạt của chị N có giá trị 8.500.000đồng

Tại Cáo trạng số 43/CT-VKSAD ngày 24 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Đinh Văn C về tội “Cướp tài sản” theo khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Đinh Văn C khai nhận về hành vi cướp tài sản như nội dung cáo trạng đã nêu.

Bị hại trình bày tại phiên tòa có nội dung như bị cáo khai nhận. Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 23.500.000 đồng trong đó có 15.000.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt trong thẻ ATM và 8.500.000 đồng tiền giá trị chiếc điện thoại. Trước khi mở phiên tòa gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại 10.000.000 đồng còn lại 13.500.000 đồng, bị hại yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương trong phần luận tội, trên cơ sở phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Đinh Văn C với mức án từ 8 năm 6 tháng đến 9 năm 6 tháng tù về tội “Cướp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại số tiền 13.500.000 đồng. Đề nghị miễn tiền án phí cho bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đối với xe mô tô BKS 22B2-31291 và 01 thẻ ATM, tài liệu xác minh thể hiện là tài sản hợp pháp của chị Chu Thị N. Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô, 01 thẻ ATM mang tên Chu Thị N.

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao nhọn bằng kim lại màu trắng dài 25cm, lưỡi dao nhọn, bản rộng 2,5cm, cán dao được bọc bằng nilon màu hồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh đen, màn hình không còn, ốp bị vỡ vụn (đã hỏng không sử dụng được).

Người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn C trình bày quan điểm nhất trí với Viện kiểm sát về tội danh và điều luật truy tố, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo hoàn toàn không có ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô BKS 22B2-31291 của chị N, thực tế bị cáo có đủ thời gian mang chiếc xe trên đi tiêu thụ nhưng do bị cáo không có ý thức chiếm đoạt nên mới thông báo cho chị N xe máy để ở khu nhà trọ để chị N biết đến lấy. Mặt khác về nguyên nhân, động cơ dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là hoàn toàn do bột phát không có ý thức từ trước. Về tình tiết giảm nhẹ, trước khi mở phiên tòa bị cáo đã tác động tích cực với gia đình để bồi thường cho bị hại 10.000.000 đồng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất của khung hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Sau khi nói lời sau cùng, bị cáo Đinh Văn C ăn hối cải và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt:

Hội đồng xét xử xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hai, lời khai người làm chứng phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ kết luận: Ngày 20/10/2020, tại phòng trọ của chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1978 ở thôn Đ, xã H, huyện An Dương, Hải Phòng, bị cáo Đinh Văn C có hành vi dùng dao đe dọa chị Chu Thị N làm cho chị N sợ hãi lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản của chị Chu Thị N. Tài sản bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại gồm 01 chiếc xe mô tô BKS 22B2-31291 có giá trị 13.500.000đồng; 01chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo Reno4 Pro có giá trị 8.500.000đồng và 15.000.000đồng (trong thẻ ATM). Tổng giá trị tài sản là 37.000.000đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội Cướp tài sản vi phạm Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Đinh Văn C đã có hành vi dùng dao nhọn đe doạ người bị hại mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản. Dao nhọn là phương tiện nguy hiểm, sử dụng dao nhọn tấn công người khác có thể gây nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ của người bị tấn công. Như vậy hành vi của bị cáo Đinh Văn C đã vi phạm điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự "Sử dụng phương tiện nguy hiểm".

- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang lo sợ, gây dư luận xấu ở địa phương. Do vậy phải xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trước khi mở phiên tòa bị cáo đã có tác động tích cực với gia đình để bồi thường cho bị hại 10.000.000đồng và người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông nội là Đinh Văn Chức là người có công với cách mạng, gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập, hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Chu Thị N yêu cầu bị cáo phải bồi thường 23.500.000đồng (15 triệu đồng trong thẻ ATM và 8.500.000đồng tiền giá trị chiếc điện thoại). Hội đồng xét xử xét yêu cầu của bị hại là chính đáng hợp pháp trước khi mở phiên tòa gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại 10.000.000 đồng còn lại 13.500.000 đồng buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã quyết định trả lại xe mô tô BKS 22B2-31291 và 01 thẻ ATM mang tên Chu Thị N nên không xét.

Đối với 01 con dao nhọn bằng kim loại, lưỡi dao nhọn, cán dao được bọc bằng nilong màu hồng là vật chứng vụ án được bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đen, màn hình không còn, ốp bị vỡ vụn không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Đinh Văn C 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 05 tháng 11 năm 2020.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Đinh Văn C phải bồi thường cho chị Chu Thị N số tiền 13.500.000đồng (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Đối với khoản tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại nêu trên, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao nhọn bằng kim loại màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh đen (tình trạng đặc điểm vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25 tháng 5 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương)

Về án phí: Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh Văn C.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ