vanban.org

Bản án 52/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 08/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Trương Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Về vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác tay dài, loại vải thun, màu đỏ. (Vật chứng đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện HB theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/11/2021) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn H - "Cướp giật tài sản" - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trương Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HB
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2021/HS-ST
Ngày 08-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HB, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Diễm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Liêu Tài Ngoánh

Ông Võ Tấn Phước

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dư, Thư ký Tòa án nhân dân huyện HB.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HB, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện HB, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Trương Văn H, sinh năm: 2000, tại RS – Kiên Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp TQ, xã TT, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn T, sinh năm: 1963 và bà Đặng Thị N, sinh năm: 1971; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: tốt; Bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác (có mặt).

- Bị hại: Hà Thanh T, sinh năm 1984; Địa chỉ: ấp 12, xã VHA, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 18/5/2021, Trương Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter, biển kiểm soát 69H1-024.82 từ Cà Mau đến ấp 12, xã VHA, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu. Trên đường đi, bị cáo ghé tiệm sửa xe mượn chìa khóa tháo biển số xe bỏ vào cốp xe. Khi đến gần nhà chị Hà Thanh T tại ấp 12, xã VHA, bị cáo ghé vào quán nước bên cạnh nhà chị T để uống nước và quan sát chị T. Đến khoảng 16 giờ 25 phút cùng ngày, khi thấy chị T ngồi phía trước nhà lựa khô, bị cáo giả vờ tiếp cận và hỏi chị T “khô này là khô gì vậy chị?”, khi chị T ngước lên trả lời thì bị cáo dùng tay giật mạnh đứt sợi dây chuyền chị T đeo trên cổ và bỏ chạy. Chị T đuổi theo và truy hô, đồng thời chị T dùng tay ôm ngang hông, giằng co qua lại với bị cáo. Một lúc sau bị cáo thoát ra và bỏ chạy, chị T giữ lại được sợi dây chuyền bị đứt và trình báo công an.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐGĐTS ngày 10/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện HB xác định: 01 sợi dây chuyền vàng, loại vàng 17K, kiểu dây bông móc máy, có mặt dây chuyền, trọng lượng 08 chỉ, có giá 31.856.000 đồng.

Bản cáo trạng số 54/CT-VKSHB, ngày 12/11/2021, của Viện kiểm sát nhân dân huyện HB, tỉnh Bạc Liêu, đã truy tố bị cáo Trương Văn H về tội “Cướp giật tài sản”, theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trương Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu xem xét trách nhiệm dân sự nên đề nghị không xem xét, giải quyết.

- Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác tay dài, loại vải thun, màu đỏ.

Bị cáo Trương Văn H khai nhận đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản của chị Hà Thanh T, không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến và khiếu nại, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Trương Văn H phù hợp với lời khai bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vì mong muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo nảy sinh ý định tìm tài sản của người khác chiếm đoạt. Vào lúc 16 giờ 25 phút ngày 18/5/2021 tại nhà chị Hà Thanh T, ấp 12 xã VHA, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Trương Văn H dùng thủ đoạn giả vờ tiếp cận hỏi chuyện và lợi dụng lúc chị T không cảnh giác chiếm đoạt sợi dây chuyền của chị T, loại vàng 17 k có trọng lượng 08 chỉ, sau đó nhanh chóng lên xe mô tô tẩu thoát nhưng bị bắt giữ. Kết quả định giá sợi dây chuyền nêu trên có trị giá 31.856.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có trình độ học vấn thấp (không biết chữ) nên có sự am hiểu pháp luật còn hạn chế. Xét tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi đã thực hiện nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào các tình tiết trên, xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là đúng với quy định của Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ của bị cáo 01 xe gắn máy nhãn hiệu Exciter màu xanh – trắng, không có biển kiểm soát; 01 biển kiểm soát số 69H1-024.82; 01 bảo hiểm xe tên Lê Thị T, 01 bóp da bên trong có 01 chuỗi dây màu đen, 01 thẻ ATM số thẻ 9704.0509.3300.0957, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe tên Lê Thị T, số tiền 8.000 đồng và 01 áo khoác thun màu đỏ.

Cơ quan Điều tra đã trả lại cho bị cáo 01 bóp da bên trong có 01 chuỗi dây màu đen, một thẻ ATM ngân hàng Agribank số thẻ 9704.0509.3300.0957 và số tiền 8.000 đồng. Chuyển cơ quan Điều tra huyện UM, tỉnh Cà Mau 01 xe gắn máy nhãn hiệu Exciter; 01 biển kiểm soát số 69H1-024.82; 01 bảo hiểm xe mô tô, gắn máy và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 006796 đều mang tên Lê Thị T (vì đây là vật chứng trong vụ án khác). Đối với các vật chứng nêu trên, cơ quan Điều tra công an huyện HB đã xử lý đúng quy định pháp luật.

Đối với 01 áo khoác thun màu đỏ của bị cáo do không có giá trị sử dụng và bị cáo không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu xem xét về trách nhiệm dân sự nên không giải quyết.

Về án phí: bị cáo Trương Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: bị cáo Trương Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trương Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

2. Về vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác tay dài, loại vải thun, màu đỏ.

(Vật chứng đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện HB theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/11/2021)

3. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Trương Văn H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ