vanban.org

Bản án 52/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước Tuyên án 13/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hà V T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà V T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 14/3/2021. Về vật chứng của vụ án: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 102/2021/GĐ-MT, bên ngoài có chữ ký của giám định viên: Nguyễn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn Tường - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà V T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỒNG PHÚ
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2021/HS-ST
Ngày: 13-7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa:

Bà Phan Thị Tý

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Giới

Ông Nguyễn Viết Xứng

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Tạ Văn Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2021/TLST-HS ngày 11/6/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2021, đối với bị cáo:

Hà V T, sinh ngày 20 tháng 4 năm 1989, tại Cao Bằng; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Nơi cư trú: ấp P T, xã T P, huyện Đ P, tỉnh Bình Phước. Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Tày; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Hà V V, sinh năm 1950 và bà Đàm T R, sinh năm 1953; bị cáo có 04 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1988; có vợ là Mông T H, sinh năm 1991, có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/3/2021 đến nay.

- Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến: Nông V N, sinh năm 1997 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp PT, xã TP, huyện Đ P, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 14/3/2021, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Hà V T đến gặp Đ (không rõ lai lịch) tại khu vực ấp PT, xã TP, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước để hỏi mua 300.000 Đ ma túy, Đ đồng ý và bán cho T 01 gói nylon bên trong đựng ma túy đá. T giấu gói ma túy trong ví da và để trong túi quần. Khoảng 21 giờ cùng ngày, T đang đi bộ trên đường ĐT753 thuộc ấp PT, xã TP, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước thì bị Công an huyện Đồng Phú phối hợp với Công an xã Tân Phước kiểm tra, qua kiểm tra phát hiện trong túi quần phía sau của T có 01 ví da, bên trong có 01 gói nylon đựng tinh thể màu trắng, qua làm việc T khai nhận là ma túy đá mua của Đ và mang theo nhằm mục đích sử dụng nên Công an huyện Đ Phú lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang đối với Hà V T, niêm phong tang vật theo quy định. Quá trình điều tra, Hà V T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên (bút lục 16 - 17; 27 - 33).

Vật chứng thu giữ: 01 gói Nylon dạng kéo miết, kích thước (4x7,6,5)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 ví da màu đen.

Tại bản kết luận giám định số 102/2021/GĐ-MT ngày 18/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, kết luận: "Tinh thể màu trắng có trong 01 gói nylon hàn kín (ký hiệu M) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là 0,7967 gam" (bút lục 19).

Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 11 tháng 6 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Hà V T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng đã đề cập và đề nghị Hội Đ xét xử: Tuyên bố bị cáo Hà V T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Hà V T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 14/3/2021. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo đang bị tạm giam.

Về vật chứng của vụ án: đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 102/2021/GĐ-MT, bên ngoài có chữ ký của giám định viên: Nguyễn V H, CBĐT: Trần Q T, đối tượng: Hà V T, bên trong đựng 0,7193 ma túy, loại Methamphetamine kí hiệu M hoàn lại sau giám định; 01 ví da màu đen.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hà V T khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố là đúng hành vi phạm tội của bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội Đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Hà V T thừa nhận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 14/3/2021, bị cáo Hà V T đến gặp đối tượng tên Đ (không rõ lai lịch) tại khu vực ấp PT, xã TP, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước để hỏi mua 300.000 Đ ma túy, Đ đồng ý và bán cho bị cáo T 01 gói nylon bên trong đựng ma túy đá. Sau khi nhận gói nylon chứa ma túy đá bị cáo T đã giấu gói ma túy trong ví da và để trong túi quần. Khoảng 21 giờ cùng ngày, bị cáo T đang đi bộ trên đường ĐT 753 thuộc ấp PT, xã TP, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước thì bị Công an huyện Đồng Phú phối hợp với Công an xã Tân Phước kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần phía sau của bị cáo T có 01 ví da, bên trong có 01 gói nylon đựng tinh thể màu trắng, bị cáo T đã khai nhận là ma túy đá và mang theo nhằm mục đích sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Theo bản kết luận giám định số 102/2021/GĐ-MT ngày 18/03/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, kết luận: Tinh thể màu trắng có trong 01 gói nylon hàn kín (ký hiệu M) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,7967 gam.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 14/3/2021, bị cáo Hà V T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và trật tự an ninh tại địa phương, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng đến lối sống lành mạnh của cộng đồng dân cư; xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước trong việc cất giữ, bảo quản và vận chuyển các chất ma túy.

Như vậy, hành vi bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú đã truy tố.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, có trình độ học vấn thấp nên khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế; lần đầu thực hiện hành vi phạm tội; có 02 con còn nhỏ. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Đối với đối tượng tên Đ là người bán ma túy cho Hà V T, Cơ quan điều tra chưa xác minh được nhân thân lai lịch, tách ra xác minh xử lý sau, Viện kiểm sát không đề cập đến việc xử lý trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hà V T ngày 18/03/2021, Công an huyện Đồng Phú đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Viện kiểm sát không đề cập đến việc xử lý trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong số 102/2021/GĐ-MT, bên ngoài có chữ ký của giám định viên: Nguyễn V H, CBĐT: Trần Q T, đối tượng: Hà V T, bên trong đựng 0,7193 ma túy, loại Methamphetamine kí hiệu M hoàn lại sau giám định; 01 ví da màu đen cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo Hà V T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Hà V T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà V T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 14/3/2021.

3. Về vật chứng của vụ án: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 102/2021/GĐ-MT, bên ngoài có chữ ký của giám định viên: Nguyễn V H, CBĐT: Trần Q T, đối tượng: Hà V T, bên trong đựng 0,7193 ma túy, loại Methamphetamine kí hiệu M hoàn lại sau giám định; 01 ví da màu đen.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Hà V T phải nộp là 200.000 đồng.

5. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ