- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Q T và đồng phạm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Ngô Quốc T và Trần Trung C – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2021/HS-PT Ngày: 08/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Võ Nguyên Tùng;
Các Thẩm phán: Ông Lê Ngọ c Minh và Nguyễ n Việ t Hù ng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Nin – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 08 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 49/2021/TLPT-HS ngày 23 tháng 6 năm 2021 đối với các bị cáo Ngô Quốc T và Trần Trung C do có kháng cáo của các bị cáo Ngô Quốc T và Trần Trung C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2021/HS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Yên.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Ngô Quốc T, sinh năm 1999; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyệ n T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hó a (học vấn): 09/12; giớ i tí nh: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quố c tị ch: Việ t Nam; con ông Ngô C (chết) và bà Hồ Thị Th, sinh năm 1969; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
2. Trần Trung C, sinh năm 2000; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyệ n T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hó a (học vấn): 10/12; giớ i tí nh: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quố c tịch: Việ t Nam; con ông (Không xác định được cha) và bà Trần Thị H, sinh năm 1962; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2018 Ngô Quốc T và Nguyễn Văn H cùng sinh sống và làm việc tại thành phố H; quá trình chung sống T nghi ngờ H lấy trộm số tiền 3.000.000 đồng của mình, nhưng hai bên không xảy ra kình cãi, mâu thuẫn gì; sau đó H nghỉ việc nên cả hai không còn liên lạc với nhau.
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 08/5/2020, trong lúc ngồi nhậu tại khu vực Làng nướng thuộc khu phố L, thị trấn C, huyệ n T; thấy H đang nhậu ở quán bên cạnh, nên T gọi điện thoại cho Trần Trung C dặn C mang theo hung khí đến đánh H giúp T; giữa C và H không quen biết với nhau nhưng C vẫn đồng ý giúp T; C mang theo 01 con dao tự chế dài 69,3cm rồi điều khiển xe môtô đến gặp T; T chỉ cho C nhận dạng và vị trí ngồi của H; C đi đến chỗ H ngồi dùng dao chém nhiều nhát trúng bàn tay trái, phải; cẳng chân trái, vùng ngực trái trên đường nách của H gây thương tích, tỷ lệ 28%, rồi bỏ đi.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2021/HS-ST ngày 24/3/2021 của Tòa án nhân dân huyệ n T đã tuyên các bị cáo Ngô Quốc T và Trần Trung C phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng Điểm đ, Khoản 1 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đố i vớ i các bị cáo Ngô Quốc T và Trần Trung C; phạt mỗi bị cáo 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/5/2021, các bị cáo Ngô Quốc T và Trần Trung C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa, các bị cáo Ngô Quốc T và Trần Trung C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Ngô Quốc T và Trần Trung C – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các bị cáo Ngô Quốc T và Trần Trung C không tranh luậ n gì , tiế p tụ c xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưở ng á n treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Các bị Ngô Quốc T, Trần Trung C là những người có đầy đủ năng lực nhậ n thứ c và năng lự c điề u khi ển hành vi; theo Ngô Quố c T, năm 2018 Tạo bị mất tiề n, T nghi ngờ Nguyễ n Văn H lấ y; nhưng không nói cho H, hay ngườ i khá c biế t, T cũng không báo cáo cơ quan có thẩm quyền giải quyết , cả hai vẫn xem nhau như bạn, không hiề m khí ch gì . Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 08/5/2020 thấ y H tại khu phố L, thị trấn C, huyện T; T đã nhờ Trần Trung C đem dao tự chế dài 69,3cm đến chém Nguyễn Văn H gây thương tích, tỷ lệ 28%. Tuy thương tích của người bị hại dưới 31%, nhưng các bị cáo hung hăng, bấ t chấ p phá p luậ t, vô cớ sử dụng dao sắc, nhọn để xâm hạ i đế n sứ c khỏ e củ a ngườ i khá c ; là phạm tội thuộc trường hợp có tính chất côn đồ và dùng hung khí nguy hiểm, theo Điểm a, i, Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự; do đó , cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm đ, Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
Khi lượng hình án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án; xem xét đến nguyên nhân, điều kiện phạm tội; và áp dụng đầy đủ các tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà cá c b ị cáo được hưởng để phạt mỗ i b ị cáo 03 năm 06 tháng tù, đồ ng thờ i không cho cá c bị cá o đượ c hưở ng chí nh sá ch hì nh sự tạ i Điề u 65 Bộ luậ t Hình sự là phù hợ p ; mặc dù tại cấp phúc thẩm, bị cáo T cung cấp tài liệu chứng minh, năm 2021 có tham gia làm công tác thiện nguyện phòng , chố ng dị ch covd – 19, nhưng không phải là tình tiết giảm nhẹ đặc biệt; nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, mà chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên – giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt để có đủ thời gian cải T, giáo dục các bị cáo.
Các bị cáo Ngô Quốc T và Trần Trung C kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Ngô Quốc T và Trần Trung C – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt.
Tuyên bố: Các bị cáo Ngô Quốc T và Trần Trung C phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
1. Áp dụng Điểm đ, Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo; phạt:
- Bị cáo Ngô Quốc T – 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Bị cáo Trần Trung C – 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức, thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Ngô Quốc T và Trần Trung C mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghì n đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDCC tại Đà Nẵng (1); - TAND huyện T (2); - VKSND tỉnh Phú Yên (2); - VKSND huyện T (1); - Sở tư pháp (1); - PV27 (1); - Người tham gia tố tụng; - Lưu án văn (1); lưu hồ sơ (2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Nguyên Tùng |