- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn Th - Vũ Thị Nh"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐT TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2021/HNGĐ-ST Ngày 17/8/2021 " V/v: Ly hôn " |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐT, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Như Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Giới
2. Ông Lương Xuân Sớm
Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Mạnh Hùng - Thư ký Toà án nhân dân thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh: Ông Vũ Văn Tấp - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 46/2021/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2021, về việc "Ly hôn ", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2021/QĐST - HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1957; Địa chỉ: Tổ 2, khu VP, phường MK, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt
2. Bị đơn: Bà Vũ Thị Nh, sinh năm 1963; Địa chỉ: Tổ 2, khu VH, phường MK, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt lần thứ hai, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/02/2021, bản tự khai ngày 07/5/2021 và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Th trình bày: Ông chung sống cùng bà Vũ Thị Nh, trên cơ sở tình yêu, tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân dân phường MK, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng ông chung sống tại tổ 2, khu VP, phường MK, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 5 năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà Nh về chung sống cùng con trai để trông và chăm sóc cháu giúp con trai tại khu VH, phường MK, thị xã ĐT. Kể từ thời điểm đó đến nay vợ chồng ông phải sống ly thân với nhau, mỗi người một nhà. Ông đã nhiều lần vận động, khuyên bảo bà quay về chung sống cùng nhưng bà Nhã không đồng ý. Vì vậy, vợ chồng ông thường xuyên cãi vã, nảy sinh nhiều mâu thuẫn, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Nay ông Th xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, nên đề nghị được ly hôn với bà Vũ Thị Nh.
Về con chung, vợ chồng ông không có con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng ông không có tài sản chung và không vay nợ ai.
Đến nay, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Th yêu cầu Tòa án giải quyết: Xin ly hôn với bà Vũ Thị Nh.
* Đối với bị đơn bà Vũ Thị Nh đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và thông báo về các phiên họp, phiên hòa giải theo quy định, nhưng đều vắng mặt không có lý do.
Ngày 23/7/2021, Toà án nhân dân thị xã ĐT đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm ly hôn đối với ông Th và bà Nh. Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng bà Nh vẫn vắng mặt nên Toà án đã hoãn phiên toà vì vắng mặt bị đơn. Tại phiên tòa ngày 17/8/2021 bà Nh vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân giữa ông Th và bà Nh, địa phương cung cấp như sau: Ông Nguyễn Văn Th và bà Vũ Thị Nh kết hôn năm 2015, sau đó ông bà về chung sống tại khu VP, phường MK, thị xã ĐT được hai năm thì phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân do ông Th tuổi già, có bệnh, con cái ở xa nên cần người chăm sóc, chia sẻ. Bản thân ông Th là người kỹ tính, cẩn thận. Bà Nh do cháu nội còn bé, bố mẹ ly hôn nên về ở cùng con trai để chăm sóc cháu nội. Do đó, giữa ông bà đã xảy ra mâu thuẫn, không có tiếng nói chung. Việc ông Th có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn bà Nh, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa quá trình tiến hành tố tụng, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn quá trình tham gia tố tụng đã chấp hành và thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị HĐXX chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Văn Thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn Th xin ly hôn bà Vũ Thị Nh, có hộ khẩu thường trú tại tổ 2, khu VH, phường MK, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã ĐT, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn Th và bà Vũ Thị Nh chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là cuộc hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống, ông bà không hợp nhau về tính cách, vợ chồng thường xuyên va chạm, xích mích, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Do không hòa giải được mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, nên ông bà đã ly thân với nhau một thời gian dài, không ai quan tâm đến cuộc sống riêng của ai.
Quá trình giải quyết, Tòa án đã có thông báo về việc thụ lý vụ án, đã thông báo về việc mở phiên họp, phiên hòa giải để ông Th và bà Nh có điều kiện gặp gỡ, thỏa thuận với nhau về những vấn đề có tranh chấp. Bà Vũ Thị Nh đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, được thông báo về thời gian, địa điểm mở phiên họp, phiên hòa giải nhưng vắng mặt, không có lý do. Như vậy có thể thấy bà Nh không còn mong muốn vợ chồng hòa giải, khắc phục những mâu thuẫn trở về đoàn tụ.
Từ đó xác định: Ông Nguyễn Văn Thg và bà Vũ Thị Nh không còn tình cảm với nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên cần chấp nhận cho ông Th được ly hôn bà Nh theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Ông bà không có con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Th và bà Nh không có tài sản chung và không có nợ chung.
Về án phí: Ông Th được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;
- Khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Th.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn Th được ly hôn với bà Vũ Thị Nh.
[2]. Về án phí: Ông Nguyễn Văn Th được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[3]. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thị xã ĐT; - Chi cục THADS thị xã ĐT; - Các đương sự; - Ủy ban nhân dân phường MK (nơi ĐKKH); - Lưu | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thị Như Quỳnh |