- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị Th + Mai Văn S"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Đỗ Thị Th và anh Mai Văn S.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2021/HNGĐ - ST Ngày: 30-9-2021 V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Tuyển.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Bá Luyến và bà Vũ Thị Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Ngày 30/9/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 105/2021/TLST - HNGĐ ngày 19/7/2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 27/8/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2021/QĐST-HNGĐ ngày 14/9/2021 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Th - Sinh năm: 1975 - Địa chỉ: Thôn 5, xã Th, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.
- Bị đơn: Anh Mai Văn S - Sinh năm: 1971 - Địa chỉ cư trú cuối cùng: Thôn 5, xã Th, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt (không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/7/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đỗ Thị Th trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Mai Văn S chung sống cùng nhau vào năm 1995, tổ chức theo phong tục truyền thống nhưng không có đăng ký kết hôn. Sau khi về chung sống cùng nhau, chị và anh S sống không hạnh phúc. Đến tháng 11/2016, anh S bỏ gia đình và địa phương đi đâu, làm gì chị và gia đình không biết. Chị đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không biết tin tức gì về anh S. Chị đã làm thủ tục tuyên bố anh S mất tích tại Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn. Ngày 25/5/2021, Tòa án ND huyện Nga Sơn đã ra quyết định tuyên bố anh S mất tích theo quy định. Nay quyết định đó đã có hiệu lực, chị yêu cầu được ly hôn anh S theo quy định pháp luật.
Về con: Chị và anh S có 03 con chung là Mai Văn Tr và Mai Văn Gi, đều sinh năm 1996; Mai Văn L, sinh năm 2001. Hiện các cháu đã trưởng thành và đang sinh sống cùng chị, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản: Chị và anh S không có tài sản chung và anh S không có tài sản riêng, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục niêm yết Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật, nhưng anh S không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh S, còn chị Th vẫn giữ nguyên quan điểm của mình là được ly hôn với anh S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của chị Đỗ Thị Th, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Đỗ Thị Th có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Mai Văn S. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Nga Sơn.
Anh Mai Văn S đã bị tuyên bố mất tích. Tòa án đã làm các thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định. Ngày 14/9/2021, Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất, anh S vắng mặt không có lý do nên HĐXX quyết định hoãn phiên tòa, tại phiên tòa hôm nay anh S vẫn vắng mặt, theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử lần hai - vắng mặt anh S.
Về hôn nhân:
Chị Đỗ Thị Th và anh Mai Văn S tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức cưới theo phong tục truyền thống vào năm 1995 nhưng không có đăng ký kết hôn. Theo chị Th trình bày, sau khi về chung sống với nhau, chị và anh S sống không hạnh phúc. Đến tháng 11/2016, anh S bỏ gia đình và địa phương đi đâu, làm gì chị và gia đình không biết. Chị đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không biết tin tức gì về anh S. Chị đã yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn tuyên bố anh S mất tích. Ngày 25/5/2021, Tòa án ND huyện Nga Sơn ra quyết định số 03/2021/QĐST-DS tuyên bố anh S mất tích theo quy định. Nay quyết định đã có hiệu lực, chị Th yêu cầu ly hôn anh S. Theo quy định tại khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình, cần xử không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Th và anh S là vợ chồng.
Về con chung: Chị Th và anh S 03 con chung là Mai Văn Tr và Mai Văn Gi, đều sinh năm 1996; Mai Văn L, sinh năm 2001. Hiện các cháu đã trưởng thành và đang sinh sống cùng chị, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên miễn xét.
Về tài sản: Chị Th không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.
Về án phí: Chị Đỗ Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Đỗ Thị Th và anh Mai Văn S.
2. Về án phí: Chị Đỗ Thị Th phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST mà chị đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2019/0011084 ngày 14/7/2021 của Chi cục THADS huyện Nga Sơn; chị Th đã nộp đủ tiền án phí DSST.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Th có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh S có quyền kháng bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Nga Sơn; - Chi cục THADS huyện Nga Sơn; - UBND xã Th, huyện N; - Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Văn Tuyển |