- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng với bà Vũ Thị T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2021/DS-ST Ngày: 15-9-2021 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đính
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Lan
2. Bà Nguyễn Thị Mý
- T ký phiên tòa: Ông Vương Tấn Lập - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Dung – Kiểm sát viên.
Trong ngày 15-9-2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 191/2020/TLST-DS ngày 22 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2021/QĐXXST-DS ngày 22-7-2021, giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần H; địa chỉ trụ sở chính: Số H, phường B, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Võ Thái Hoàng, là Chuyên viên Quan hệ khách hàng của Ngân hàng Thương mại cổ phần H – Chi nhánh Gia Lai; địa chỉ: Số H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Vũ Thị T; địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện G, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngân hàng Thương mại cổ phần H (Ngân hàng) thông qua Chi nhánh Gia Lai có cho bà Vũ Thị T vay tiền theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 216/19CNGL/HĐTD ngày 07-5-2019 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 216/19CNGL/HĐTD/KUNN01 ngày 08-5-2019 như sau: Số tiền vay là 250.000.000 đồng; mục đích vay là bổ sung vốn trồng trọt, chăn nuôi; thời hạn vay là 12 tháng, từ ngày 09-5-2019 đến ngày 08-5-2020; lãi suất vay trong hạn là 11%/năm, được cố định trong 12 tháng đầu tiên, sau đó được thay đổi 03 tháng/lần, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn; phương thức trả nợ lãi 01 năm/lần, gốc trả cuối kỳ. Khi vay tiền, để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng tín dụng nêu trên thì giữa Ngân hàng với bà Vũ Thị T có giao kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 216/19CNGL/HĐBĐ ngày 07-5-2019, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 4, tờ bản đồ số 61 tại xã N, huyện P, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 596802 được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai cấp ngày 14-9-2010 cho ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị T, bà Vũ Thị T đã nhận phân chia tài sản chung toàn bộ diện tích ngày 02-4-2019.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Vũ Thị T mới trả được cho Ngân hàng 28.188.417 đồng tiền nợ gốc, sau đó không tiếp tục thực hiện việc trả tiền nợ gốc còn lại và nợ lãi cho Ngân hàng như đã thỏa thuận nên đến ngày 08-5-2020 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số tiền nợ gốc còn lại sang nợ quá hạn. Do cho bà Vũ Thị T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Vũ Thị T phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 15-9-2021 là 278.133.795 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 221.811.583 đồng, nợ lãi quá hạn là 56.322.212 đồng và toàn bộ tiền lãi phát sinh đến thời điểm trả hết số tiền nợ. Trường hợp bà Vũ Thị T không trả hết số tiền còn nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với tài sản thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
2. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng để triệu tập bị đơn là bà Vũ Thị T đến làm việc liên quan đến vụ án nhưng bà Vũ Thị T cố tình trốn tránh, không có mặt theo Giấy triệu tập của Tòa án. Do vậy, hồ sơ không có lời khai của bà Vũ Thị T.
3. Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập các tài liệu, chứng cứ: Hợp đồng tín dụng hạn mức số 216/19CNGL/HĐTD ngày 07-5-2019 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 216/19CNGL/HĐTD/KUNN01 ngày 08-5-2019; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 216/19CNGL/HĐBĐ ngày 07-5-2019; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 596802 được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai cấp ngày 14-9-2010; Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất ngày 07-5-2019; Hộ khẩu Vũ Văn Đ; Chứng minh nhân dân Vũ Thị T; Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 50/2019/QDST-HNGĐ ngày 07-3-2019; Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 68 ngày 04-4-2019; Điều lệ Ngân hàng Thương mại Cổ phần H; Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần, đăng ký thay đổi lần thứ 27 ngày 06-4-2020; Chứng minh nhân dân Huỳnh Thị Bảo H, Hoàng Anh V; Quyết định số 1482 ngày 08-7-2020; Quyết định số 59A ngày 26-4-2018; Giấy ủy quyền số 634 ngày 21-10-2020; Thông báo khởi kiện ngày 03-11-2020; Phiếu chiết tính thu nợ vay; Biên bản xác minh ngày 29-12-2020; Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28-5-2021.
4. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G khẳng định trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn phù hợp với quy định của pháp luật, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại các Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết. Hợp đồng giao kết giữa hai bên chủ thể trong đó có một bên chủ thể Ngân hàng là tổ chức tín dụng có đăng ký kinh doanh và một bên là bị đơn không có đăng ký kinh doanh nên được xác định là hợp đồng dân sự về tín dụng và pháp luật áp dụng là Bộ luật Dân sự và Luật Các tổ chức tín dụng; Trong quá trình giải quyết vụ án những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật; Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn cố tình trốn tránh, không có mặt theo giấy triệu tập, không cung cấp chứng cứ nên phải chịu trách nhiệm về việc không chứng minh được và Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Hợp đồng tín dụng hạn mức số 216/19CNGL/HĐTD ngày 07-5-2019 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 216/19CNGL/HĐTD/KUNN01 ngày 08-5-2019 giữa nguyên đơn với bị đơn được giao kết hợp pháp nên có hiệu lực, các bên trong hợp đồng có nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy đủ các điều khoản đã cam kết. Bị đơn vi phạm nghĩa vụ của bên vay theo hợp đồng đã được giao kết nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả nợ là có căn cứ theo quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 470 của Bộ luật Dân sự. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần H, buộc bà Vũ Thị T phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 15-9-2021 là 278.133.795 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 221.811.583 đồng, nợ lãi quá hạn là 56.322.212 đồng và toàn bộ tiền lãi phát sinh đến thời điểm trả hết số tiền nợ.
Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, Hội đồng xét xử thấy rằng giữa Ngân hàng với bà Vũ Thị T có giao kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 216/19CNGL/HĐBĐ ngày 07-5-2019, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 4, tờ bản đồ số 61 tại xã N, huyện P, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 596802 được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai cấp ngày 14-9-2010 cho ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị T, bà Vũ Thị T đã nhận phân chia tài sản chung toàn bộ diện tích ngày 02-4-2019. Hợp đồng nói trên có công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật nên có hiệu lực và các bên buộc phải thực hiện. Qua kết quả xem xét và thẩm định tại chỗ ngày 28-5-2021 thấy rằng, quyền sử dụng đất và tài sản trên đất không có tranh chấp. Vì vậy căn cứ vào Điều 299 của Bộ luật Dân sự, hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng.
Về chi phí xem xét và thẩm định tại chỗ: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ vào Điều 157, 158 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, buộc bà Vũ Thị T phải hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H toàn bộ số tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng.
Về án phí: Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn là người có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 299, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng.
- Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 -12-2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Danh mục án phí, lệ phí tòa án Ban hành kèm theo Nghị quyết.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần H.
2. Buộc bà Vũ Thị T phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H tổng số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 216/19CNGL/HĐTD ngày 07-5-2019 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 216/19CNGL/HĐTD/KUNN01 ngày 08-5-2019 tính đến ngày 15-9-2021 là 278.133.795 đồng (hai trăm bảy mươi tám triệu một trăm ba mươi ba nghìn bảy trăm chín mươi lăm đồng), trong đó tiền nợ gốc là 221.811.583 đồng (hai trăm hai mươi mốt triệu tám trăm mười một nghìn năm trăm tám mươi ba đồng), nợ lãi quá hạn là 56.322.212 đồng (năm mươi sáu triệu ba trăm hai mươi hai nghìn hai trăm mười hai đồng) và toàn bộ tiền lãi phát sinh đến thời điểm trả hết số tiền nợ.
3. Trong trường hợp bà Vũ Thị T không trả đủ số tiền nợ nêu trên cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H thì Ngân hàng Thương mại cổ phần H có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 216/19CNGL/HĐBĐ ngày 07-5-2019, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 4, tờ bản đồ số 61 xã N, huyện P, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 596802 được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai cấp ngày 14-9-2010 cho ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị T, bà Vũ Thị T đã nhận phân chia tài sản chung toàn bộ diện tích ngày 02-4-2019.
4. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
5. Buộc bà Vũ thị T phải hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H bộ số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
6. Về án phí: Buộc bà Vũ Thị T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 13.906.690 đồng (mười ba triệu chín trăm không sáu nghìn sáu trăm chín mươi đồng). Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.981.263 đồng (năm triệu chín trăm tám mươi mốt nghìn hai trăm sáu mươi ba đồng) theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí tòa án số 0011760 ngày 01-12-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Gia Lai.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
8. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên toà thì có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện G; - TAND tỉnh Gia Lai; - Chi cục THADS huyện G; - Các đương sự; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Lê Văn Đính |