vanban.org

Bản án 52/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng thuê nhà

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T

Buộc ông Ngô Thanh K phải phải thanh toán cho Ngân hàng T số tiền còn thiếu là 28,424,878 đồng (Hai mươi tám triệu, bốn trăm hai bốn ngàn tám trăm bảy tám đồng). Trong đó nợ gốc 17,138,856 đồng và nợ lãi 11,286,022 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê nhà — án dân sự — "Đoàn Văn Đức - Lý Thị Xuân Hương tranh chấp hợp đồng thuê tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2021/DS-ST
Ngày: 10-11-2021
V/v: “Tranh chấp
Hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hà Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Chánh

2. Bà Vương Thị Khánh Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đông – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 129/2021/TLST-DS ngày 02 tháng 02 năm 2021, về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2021/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 5 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số: 570/2021/QĐST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2021, Thông báo dời thời gian mở phiên toà số: 636/TB-TA ngày 09/7/2021, Thông báo về việc mở lại phiên toà số: 736/TB-TA ngày 19/10/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng T Địa chỉ: Tòa nhà Ree Tower, số 09, đường Đ, phường 12, quận 4, TP. Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng Gi – Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng V (Văn bản ủy quyền ngày 29/10/2020).

2. Bị đơn: Ông Ngô Thanh K, sinh năm 1973;

Địa chỉ: Số 49, tổ 21, khu phố 4A, phường T, thành phố B, tỉnh Đ;

(Ông V xin vắng mặt; ông K vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, tại bản tự khai và trong quá trình xét xử người đại diện theo ủy quyền ông V trình bày:

Vào ngày 23/10/2018, ông K có ký hợp đồng tín dụng số 20181026- 9901337 với Ngân hàng T vay số tiền 18,990,000 đồng (Mười tám triệu, chín trăm chín mươi ngàn đồng) với lãi suất thoả thuận 5.00%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông K có trách nhiệm thanh toán số tiền 34,434,004 đồng (gồm cả gốc là 18,990,000 đồng và lãi là 15,444,004 đồng), trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng; 23 tháng đầu, mỗi tháng trả 1,376,222 đồng, tháng cuối cùng trả 2,686,926 đồng. Bắt đầu từ ngày 12/12/2018.

Thực hiện hợp đồng, khách hàng đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho Ngân hàng T 6 lần với tổng số tiền đã trả 6,009,126 đồng (trong đó gốc là 1,851,144 đồng và lãi là 4,157,982 đồng). Kể từ ngày 04/12/2019 đến nay, ông K không thanh toán thêm bất cứ khoản nào dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở. Do khách hàng trễ hạn thanh toán nên Ngân hàng T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông K phải thanh toán cho ngân hàng số tiền còn nợ là 28,424,878 đồng (trong đó: gốc 17,138,856 đồng, lãi 11,286,022 đồng).

Quá trính thụ lý và giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng và giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định xét xử cho ông Ngô Thanh K đến Tòa làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông K vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T, buộc ông Ngô Thanh K phải trả cho ngân hàng số tiền còn thiếu theo Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Hoàng V có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, chứng cứ, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Thông báo hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật, nhưng ông K vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án Ngân hàng T khởi kiện yêu cầu ông Ngô Thanh K hiện đang cư trú tại số 49, tổ 21, khu phố 4A, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai trả lại số tiền đã vay theo Hợp đồng tín dụng các bên đã ký nên căn cứ Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng T thấy:

Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án không làm việc được với ông Ngô Thanh K nhưng căn cứ vào Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng của ngân hàng ngày 20/10/2018 được ký kết giữa Ngân hàng T với ông Ngô Thanh K và các chứng cứ khác thể hiện tại hồ sơ, nhận thấy đã có đủ cơ sở xác định vào ngày 20/10/2018 Ngân hàng đã đồng ý cho ông K vay số tiền 18,990,000 đồng là có thật. Sau khi được vay vốn ông K trả được cho Ngân hàng 6,009,126 đồng còn nợ lại tiền gốc là 17,138,856 đồng và tiền lãi phát sinh nên căn cứ theo Hợp đồng tín dụng thì ông K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã niêm yết chứng cứ khởi kiện và các thủ tục tố tụng theo quy định nhưng ông K vẫn không có ý kiến phản hồi, cố tình vắng mặt, do vậy xem như ông K đã từ chối cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và mặc nhiên thừa nhận nợ.

Từ sự nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Ngô Thanh K phải thanh toán cho Ngân hàng T số tiền còn thiếu là 28,424,878 đồng (trong đó: gốc 17,138,856 đồng, lãi 11,286,022 đồng).

Về án phí DSST:

Ông Ngô Thanh K phải chịu 1.421.000 đồng.

Ngân hàng T được nhận lại số tiền 710.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0000024 ngày 26/01/2020 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 39, Điều 203, Điều 207, Điều 227 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T

1. Buộc ông Ngô Thanh K phải phải thanh toán cho Ngân hàng T số tiền còn thiếu là 28,424,878 đồng (Hai mươi tám triệu, bốn trăm hai bốn ngàn tám trăm bảy tám đồng). Trong đó nợ gốc 17,138,856 đồng và nợ lãi 11,286,022 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa Án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Quyết định này được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

2. Về án phí DSST:

Ông Ngô Thanh K phải chịu 1.421.000 đồng.

Ngân hàng T được nhận lại số tiền 710.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0000024 ngày 26/01/2020 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN –

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Thị Khánh Loan Trần Văn Chánh

Võ Thị Hà Vân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S

Ơ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN CHỦ TỌA

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Phan Thị lệ Phong vắng mặt tại phiên thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ