- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm T-H"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| [ Bản án số: 52/2021/DS-ST. Ngày: 27/10/2021. V/v “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Tùng
2. Bà Dương Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Chiến Trực – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Điệp – Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 10 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 88/2021/TLST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2021 về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2021/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Cao Huỳnh Minh T, sinh năm: 1966
Địa chỉ: khu phố B, phường A, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn: Ông Trương Phước H, sinh năm: 1968.
- 1 -
Địa chỉ: khu phố B, phường A, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.
Tất cả có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Cao Huỳnh Minh T trình bày:
Khoảng năm 2019, vợ ông Trương Phước H là bà P có vay của ông số tiền 10.000.000đồng, trả dần mỗi ngày 100.000đồng. Bà P trả được 9.000.000đồng rồi bỏ đi. Đến tháng 02/2020, bà P quay về, ông có yêu cầu bà P trả số tiền còn nợ là 1.000.000 đồng nhưng bà P không trả. Ông cũng không yêu cầu bà P trả số tiền trên nữa.
Khoảng 21 giờ ngày 27/01/2021, ông Trương Phước H đến trước đầu hẻm nhà ông, nói ông cho vay 500.000đồng mà đòi 10.000.000đồng, sau đó đánh ông, ông có đánh trả tự vệ vài cái rồi bỏ chạy, ông H tiếp tục chửi bới, xúc phạm ông.
Sáng ngày 28/01/2021, ông đi chụp hình rồi vào khám bệnh tại bệnh viện N, kết quả bị vỡ xương hàm, vỡ xương má trái. Chi phí theo theo bảng kê khám bệnh là 938.000đồng, ngoài ra ông có mua thuốc uống tổng cộng là 1.040.000đồng.
Từ khi bị ông H đánh bị thương, ông không làm việc được, buổi tối bị đau đầu, khó ngủ. Trước khi bị ông H đánh ông làm vườn thuê cho cha ruột ở huyện Bình Đại, thu nhập mỗi tháng 7.000.000đồng. Do bị đánh, nên ông không làm việc được dẫn đến bị mất thu nhập.
Nay ông yêu cầu ông H phải bồi thường cho ông các khoản cụ thể như sau:
- Chi phí tiền thuốc và khám chữa bệnh tính tròn là 1.000.000đồng
- Tiền công lao động bị mất của 03 tháng không đi làm được từ ngày 28/01/2021 đến ngày 28/4/2021, mỗi ngày 233.333 đồng là 21.000.000đồng
- Tiền tổn thất tinh thần do ông H đánh ông làm ông hoang man, lo sợ, buổi tối ông bị đau đầu, khó ngủ là 5.000.000đồng.
- 2 -
Tổng cộng: 27.000.000đồng
Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Trương Phước H trình bày:
Khoảng ngày 21/01/2021, ông Cao Huỳnh Minh T có đến nhà ông để đòi nợ của vợ ông số tiền 10.000.000đồng. Ông nói ông không có vay tiền của ông T nên ông T bỏ về. Đến ngày 23/01/2021, vợ ông có chở cháu ngoại ông ngoài đường thì ông T đi theo sau. Vợ ông nói với ông chỉ vay của ông T số tiền 500.000đồng nhưng ông T đòi 10.000.000đồng. Vì vậy, đến khoảng 21 giờ ngày 27/01/2021, ông có đến đầu hẻm nhà ông T tìm gặp ông T để hỏi vì sao cho vay 500.000đồng mà đòi 10.000.000đồng và đi theo cháu nhỏ của ông. Ông có chỉ tay vào ông T thì ông T gạt tay ông ra nên ông dùng tay không đánh vào ông T. Ông T cũng có đánh lại ông rồi bỏ chạy vào nhà.
Ngày 24/02/2021, ông và ông T thỏa thuận tại Công an phường A, thành phố BT. Theo đó, ông đồng ý bồi thường cho ông T số tiền 1.000.000 đồng tiền thuốc và 3.000.000đồng tiền công lao động bị mất cho ông T.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T tại phiên tòa, ông đồng ý bồi thường chi phí khám chữa bệnh và tiền thuốc là 1.000.000đồng cho ông T. Tiền công lao động bị mất 10 ngày, mỗi ngày 233.333đồng là 2.333.330 đồng, tiền tổn thất tinh thần là 500.000đồng. Tổng cộng: 3.833.330đồng
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre có ý kiến: Quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự được bảo đảm quyền và nghĩa vụ của mình đúng luật định. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: đề nghị căn cứ các Điều 584, 585, 590 chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông T, cụ thể:
- Đối với Chi phí tiền thuốc và khám chữa bệnh: ghi nhận việc ông H đồng ý bồi thường cho ông T số tiền 1.000.000đồng
- 3 -
- Đối với Tiền công lao động bị mất: đề nghị ghi nhận việc bị đơn đồng ý bồi thường 10 ngày công lao động do không có chứng cứ chứng minh việc ông T bị mất thu nhập do điều trị trong 3 tháng.
- Đồi với Tiền tổn thất tinh thần: đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Ông Cao Huỳnh Minh T khởi kiện yêu cầu ông Trương Phước H bồi thường số tiền 27.000.000đồng, xét quan hệ tranh chấp giữa ông Cao Huỳnh Minh T với ông Trương Phước H là “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”, bị đơn ông Trương Phước H hiện đang cư trú tại phường A, thành phố BT nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trương Phước H thừa nhận ngày 27/01/2021 đã có hành vi gây thương tích cho nguyên đơn ông Cao Huỳnh Minh T. Theo hồ sơ điều trị của ông Cao Huỳnh Minh T do bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu cung cấp, ông T bị vỡ xương gò má và xương hàm . Do ông H đã có hành vi trái pháp luật làm tổn hại đến sức khỏe của ông T vào ngày 27/01/2021, nên việc ông T khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm là có căn cứ theo quy định tại Điều 584, 586 Bộ luật dân sự năm 2015. Các khoản tiền ông T yêu cầu ông H bồi thường được xem xét cụ thể như sau:
- Đối với yêu cầu bồi thường chi phí điều trị tiền thuốc là 1.000.000đồng, bị đơn ông H đồng ý bồi thường cho ông T số tiền trên nên ghi nhận.
- Đối với yêu cầu bồi thường tiền công lao động bị mất của 03 tháng không đi làm được từ ngày 28/01/2021 đến ngày 28/4/2021, mỗi ngày 233.333đồng là 21.000.000đồng. Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre đã ra quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ số 507/2021/QĐ-CCTLCC ngày 05/7/2021, yêu cầu ông T cung cấp chứng cứ chứng minh việc ông T phải điều trị trong khoản thời gian từ ngày 28/01/2021 đến ngày 28/4/2021 dẫn đến mất thu nhập thực tế số tiền
- 4 -
21.000.000đồng nhưng ông T không cung cấp được. Căn cứ theo Hồ sơ bệnh án của ông Cao Huỳnh Minh T do bệnh viện N cung cấp kèm theo Công văn số 1840/BVNĐC-KHTH ngày 17/6/2021, ông Cao Huỳnh Minh T điều trị ngoại trú chuyên khoa răng hàm mặt bệnh viện N. Ông Cao Huỳnh Minh T vào viện điều trị và ra viện trong ngày 28/01/2021, ông T được kê 05 ngày thuốc, không chỉ định tái khám. Ông T cũng không có chỉ định của bác sĩ phải nghỉ làm trong thời gian 03 tháng. Như vậy, thời gian ông T phải điều trị thực tế là 05 ngày, việc ông T yêu cầu bồi thường tiền công lao động bị mất của 03 tháng là không có cơ sở chấp nhận. Bị đơn ông Trương Phước H tự nguyện bồi thường cho ông T tiền công lao động bị mất 10 ngày, mỗi ngày 233.333đồng, tổng cộng 2.333.330 đồng là phù hợp nên ghi nhận.
Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần 5.000.000đồng: xét thấy, việc ông H gây thương tích cho ông T gây ảnh hưởng đến sinh hoạt cá nhân, gây tâm lý hoang man, lo lắng cho ông T nên cần buộc ông H phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất tinh thần cho Trung. Việc ông T yêu cầu ông H bồi thường số tiền tổn thất tinh thần là 5.000.000đồng là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 590 Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.
Tổng cộng, ông Trương Phước H có nghĩa vụ bồi thường cho ông Cao Huỳnh Minh T số tiền: 8.333.330 đồng.
Về án phí: Ông Trương Phước H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 416.700đồng theo quy định tại Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án
Ông Cao Huỳnh Minh T không phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận
Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- 5 -
Căn cứ: - Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự 2015.
- Khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Cao Huỳnh Minh T: Buộc ông Trương Phước H có trách nhiệm bồi thường cho ông Cao Huỳnh Minh T số tiền 8.833.330 (Tám triệu tám trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi) đồng gồm: chi phí điều trị và tiền thuốc 1.000.000 (Một triệu) đồng, tiền thu nhập thực tế bị mất là 2.333.330 (Hai triệu ba trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi) đồng, tiền tổn thất tinh thần là 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch ông Trương Phước H phải chịu là 416.700 (Bốn trăm mười sáu nghìn bảy trăm) đồng.
Ông Cao Huỳnh Minh T không phải chịu án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
- 6 -
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND TP Bến Tre. - TAND tỉnh Bến Tre. - Chỉ cục THADS TP BT. - Các đương sự. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lương Thị Thùy Dương - 7 - |