vanban.org

Bản án 52/2021/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

sự; Các Điều 430, 440 và 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Ông Lê Văn H khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp về hợp đồng với ông Trần Phước H1"
  • Tòa quyết gì? sự; Các Điều 430, 440 và 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 52/2021/DS-ST
Ngày: 05-5-2021
V/v tranh chấp hợp đồng
mua bán tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Văn Bé;

2. Bà Nguyễn Thị Ly.

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Yên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Không tham gia.

Trong ngày 05 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2021/TLST-DS ngày 02 tháng

02 năm 2021 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản theo Quyết định đưa vụ án

ra xét xử số 167/2021/QĐXX-ST ngày 24 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1963; địa chỉ cư trú: số 93, tổ

39, khóm C, phường C1, thành phố C2, tỉnh An Giang; có mặt.

2. Bị đơn:

2.1 Ông Trần Phước H1, sinh năm 1977; địa chỉ cư trú: tổ 14, ấp A, xã

A1, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt;

2.2 Bà Nguyễn Thị Xuân N, sinh năm 1974; địa chỉ cư trú: tổ 14, ấp A, xã

A1, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện nguyên đơn ông Lê Văn H tr nh bày: Vào đầu năm

2016, do chỗ quen biết nên ông Trần Phước H1, bà Nguyễn Thị Xuân N có đến

mua bò nuôi về bán lại. Đến ngày 23/7/2016 hai bên đối chiếu nợ ông Trần Phước H1, bà Nguyễn Thị Xuân N còn thiếu số tiền 362.100.000đồng; sau đó ông có đến nhà đòi nhiều lần, ông Trần Phước H1, bà Nguyễn Thị Xuân N có hứa khi bán bò sẽ trả nhưng đến nay không trả, cố t nh tránh né không gặp mặt được nên khởi kiện yêu cầu ông Trần Phước H1, bà Nguyễn Thị Xuân N trả số tiền còn nợ 362.100.000đồng và số tiền lãi phát sinh theo quy định của pháp luật từ ngày 23/7/2016.

Trong quá tr nh giải quyết vụ án, ông Trần Phước H1, bà Nguyễn Thị

Xuân N không gửi ý kiến cho Tòa án về việc khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Ông Lê Văn H khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp về hợp đồng với

ông Trần Phước H1, bà Nguyễn Thị Xuân N. Ông Trần Phước H1, bà Nguyễn Thị Xuân N có nơi cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Căn cứ các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng theo quy định;

Ông Trần Phước H1, bà Nguyễn Thị Xuân N đã được triệu tập hợp

lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Lê Văn H tự nguyện rút lại yêu cầu ông Trần Phước H1, bà

Nguyễn Thị Xuân N phải trả lãi theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn ông Lê Văn H tự nguyện rút lại yêu cầu, căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự cần đ nh chỉ đối với yêu cầu tính lãi.

Về nội dung: Ông Lê Văn H khởi kiện yêu cầu ông Trần Phước H1, bà

Nguyễn Thị Xuân N trả số tiền mua bò hiện còn thiếu là 362.100.000đồng, căn cứ khởi kiện là giấy mua bán bò của trại bò “Năm H” có xác nhận đối chiếu nợ ngày 23/7/2016 và xác nhận của địa phương là ông Trần Phước H1, bà Nguyễn Thị Xuân N là vợ chồng. Xét thấy hợp đồng mua bán được giao kết các đương sự là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với Điều 430 Bộ luật Dân sự 2015. Do ông Trần Phước H1, bà Nguyễn Thị Xuân N không thực hiện nghĩa vụ trả lại số tiền là vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều 440 Bộ luật Dân sự 2015 nên yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H là có căn cứ và được chấp nhận.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 244 và 273 Bộ luật Tố tụng dân

sự; Các Điều 430, 440 và 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa

án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H.

1) Buộc ông Trần Phước H1, bà Nguyễn Thị Xuân N có nghĩa vụ trả cho

ông Lê Văn H số tiền là 362.100.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm sáu mươi hai

triệu một trăm ngh n đồng);

2) Đ nh chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H đối với phần yêu cầu

tính lãi;

3) Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối

với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án

xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi

hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự

năm 2015.

4) Về án phí: Ông Trần Phước H1, bà Nguyễn Thị Xuân N phải chịu án

phí sơ thẩm là 18.105.000đồng (Bằng chữ: Mười tám triệu một trăm lẻ năm

ngh n đồng); Ông Lê Văn H được nhận lại số tiền 9.052.000đồng (Bằng chữ:

Chín triệu không trăm năm mươi hai ngh n đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo

biên lai thu số 0006019 ngày 02/02/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện

Chợ Mới, tỉnh An Giang.

5) Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự

có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc

thẩm. Đương sự vắng mặt th thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án

hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có

quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi

hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30

Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ