vanban.org

Bản án 52/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 06/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Chu Văn S phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Xử phạt: Bị cáo Chu Văn S 03 (ba) N 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam 26/01/2020. Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh bê tông có kích thước (5,8x9,7x12,5)cm; một số cây cỏ còn gốc và ngọn; 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu trắng có kẻ viền đen ở vai áo mặt sau có vết rác… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Văn S - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Chu Văn S phạm tội "Cố ý gây thương tích".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN SƠN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2020/HS-ST
Ngày: 06 - 7 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

--------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Thắng.

2. Bà Đặng Thị Huệ.

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thuý Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 7 N 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/TLST-HS, ngày 18 tháng 6 N 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2020/QĐXXST-HS, ngày 26/6/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Chu Văn S, sinh ngày 07/8/1998.

Trú tại:Thôn CT, xã TQ, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Chu Văn B, sinh N 1975 và bà: Triệu Thị M, sinh N 1978; vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/01/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang; có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh La Văn Đ, sinh N 1999;

Trú tại: Thôn 4, xã LQ, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Bàn Văn N, sinh N 1971; vắng mặt tại phiên tòa.

- Bà Nguyễn Thị N1, sinh N 1967; có mặt tại phiên tòa.

- Bà Vi Thi T, sinh N 1971; vắng mặt tại phiên tòa.

- Bà Vi Thị S, sinh N 1968; có mặt tại phiên tòa.

Cùng trú tại: Thôn CT, xã TQ, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

* Người làm chứng:

- Anh Bàn Văn C, sinh N 1997; có mặt tại phiên tòa.

- Anh Bàn QA, sinh N 2000; vắng mặt tại phiên tòa.

- Anh Triệu Văn T, sinh N 1992; có mặt tại phiên tòa.

Cùng trú tại: Thôn CT, xã TQ, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

- Anh Tướng Văn Đ, sinh N 2001; vắng mặt tại phiên tòa.

- Cháu Đặng Văn H, sinh N 2002; người đại diện hợp pháp của cháu H: Bà Đặng Thị T3, sinh N 1977; vắng mặt tại phiên tòa.

- Cháu Lý Thị H1, sinh N 2002;người đại diện hợp pháp của cháu H1: Bà Nông Thị H3; vắng mặt tại phiên tòa.

Cùng trú tại: Thôn 4, xã LQ, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

- Cháu Đàm Thị Kim N, sinh N 2002;người đại diện hợp pháp của cháu N: Ông Đàm Minh Q, sinh N 1978; vắng mặt tại phiên tòa.

Trú tại: Thôn 5, xã LQ, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 25/01/2020, Chu Văn S, Triệu Văn T và Bàn QA cùng trú tại thôn CT, xã TQ, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đi hát karaoke tại quán Trường Tình thuộc xóm 11, xã TQ, huyện Yên Sơn. Khi đang hát, QA nhận được điện thoại của Bàn Văn C (trú cùng thôn) nói C đi chơi tại thôn 4, xã LQ, huyện Yên Sơn bị người khác chặn đánh ở ngã ba, nhờ QA và các bạn vào đón; QA rủ S và T cùng đi đón C. Cả ba người đi bằng 02 xe mô tô, trên đường đi QA nói “về xóm lấy dao đã” (ý nói về nhà lấy dao để phòng thân nếu đi đón C bị chặn đánh sẽ dùng để chống trả), khi đi đến xưởng cơ khí của ông Bàn Văn N ở ngã 3 thôn CT, xã TQ, huyện Yên Sơn thì QA dừng xe một mình đi vào xưởng lấy ra 03 dao, đưa cho S 01 con dao loại dao tư bằng kim loại có chuôi gỗ dài 45,1cm, bản dao và lưỡi dao dài 29,9cm, bản dao chỗ rộng nhất là 5,3cm (S dắt dao ở bụng xe mô tô mà mình điều khiển), đưa cho T 01 con dao tự chế loại dao bầu hàn vào ống kim loại dài 62,8cm, QA cầm 01 con dao tự chế màu trắng bạc dài 30,8cm sau đó tất cả cùng đi đến nhà của Lý Thị H1 (bạn gái C tại thôn 4, xã LQ, huyện Yên Sơn). Khi đến nhà H1, S, T, QA gặp C, ngoài ra còn có La Văn Đ sinh N 1999 và Tướng Văn Đ cùng trú tại thôn 4, xã LQ sau đó tất cả cùng nhau ngồi uống rượu tại nhà H1. Đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 26/01/2020, Đ và Đ đi về trước; S điều khiển xe mô tô chở C và T; QA điều khiển xe mô tô đi một mình về sau. Khi đi đến ngã 3 cạnh nhà văn hóa thôn 4, xã LQ thì S, C, T và QA gặp Đ, Đ nên dừng xe lại để nói chuyện, lúc này Đ nhớ lại việc trước đây đi chơi từng bị S chặn đánh nên đã đi đến đối diện bên trái S dùng tay phải đấm 01 phát trúng vào vùng mắt trái của S rồi bỏ chạy. Bị đánh bất ngờ, S bực tức liền rút con dao dắt sẵn ở bụng xe đuổi theo Đ; thấy vậy T, QA, C chạy theo sau. S đuổi theo khoảng 20 mét thì đuổi kịp cách Đ khoảng 01 mét (tư thế Đ chạy trước S đuổi phía sau) cầm dao bằng tay phải giơ lên chém với 01 nhát từ trên xuống dưới trúng vào phần vai bên phải của Đ, Đ vẫn tiếp tục chạy, S đuổi theo được khoảng 03 mét, cách Đ khoảng 01 mét thì tiếp tục cầm dao bằng tay phải giơ lên chém 01 nhát từ trên xuống dưới từ phải qua trái về phía lưng Đ thì bất ngờ Đ quay đầu S bên phải nhìn lại nên nhát dao trúng vào vị trí trán bên phải của Đ gây thương tích, Đ chạy xuống cánh đồng, lúc này Đ chạy đến can; S thấy Đ bị thương nên không tiếp tục đuổi theo nữa mà cùng T, C, QA đi về. La Văn Đ được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang.

Tại Bản kết luận pháp y về thương tích số 20/2020/TgT ngày 03/02/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Tuyên Quang kết luận đối với thương tích của La Văn Đ:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo vùng trán: 6%.

- Sẹo vùng vai bên phải: 1%.

- Ô tổn thương nhu mô não: 26%

- Ô khuyết xương sọ: 20%

2. Cơ chế, vật gây thương tích: Do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.

3. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 45%(Bốn mươi lăm phần trăm).

Tại Kết luận giám định số 142/GĐ-KTHS(PC09) ngày 07/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận:

Trên các mẫu ký hiệu A1, A2, A3 (03 con dao thu giữ) gửi giám định không phát hiện dấu vết máu, các mẫu A4, A5, A6, A7 (01 mảnh bê tông, một số cây cỏ, 02 chiếc áo của Đ) có bám dính máu người, thuộc nhóm máu B (La Văn Đ thuộc nhóm máu B).

Đối với tổn hại sức khỏe của Chu Văn S, quá trình điều tra vụ án S có đơn từ chối giám định tổn hại phần trăm sức khỏe. Do đó, không có căn cứ để xem xét giải quyết trong vụ án.

Đối với hành vi La Văn Đ dùng tay đấm Chu Văn S ngày 26/01/2020, Công an huyện Yên Sơn đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 149/QĐ-XPHC ngày 29/5/2020 đối với Đ. Hình thức phạt tiền: 2.250.000 đồng.

Trước cơ quan điều tra, bị cáo Chu Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 56/CT-VKSYS, ngày 17 tháng 6 N 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Chu Văn S có lý lịch nêu trên về tội: Cố ý gây thương tích, theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Bị cáo Chu Văn S phạm tội: Cố ý gây thương tích;

- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Chu Văn S từ 03 N đến 03 N 06 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/01/2020.

- Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 mảnh bê tông có kích thước (5,8x9,7x12,5)cm; một số cây cỏ còn gốc và ngọn; 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu trắng có kẻ viền đen ở vai áo mặt sau có vết rách hình chữ L kích thước (1x2,2)cm; 01 chiếc áo khoác phao màu đỏ đen mặt sau có vết rách dài 6,3cm rộng 0,4cm; 01 đôi dép lê đế màu vàng quai màu xanh; 01 con dao tư bằng kim loại chuôi gỗ dài 45,1cm; 01 con dao tự chế loại dao bầu hàn vào ống kim loại dài 62,8cm; 01 con dao tự chế màu trắng bạc dài 30,8cm.

- Về phần bồi thường dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 70.000.000 đồng, trước khi mở phiên tòa bị cáo bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị hại có đơn xét xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để quyết định về án phí; áp dụng các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo đối với bị cáo, bị hại.

Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử cho được H1 mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình, xã hội để làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi của bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Chu Văn S đã T khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình bị cáo khai:

Tối ngày 25/01/2020 bị cáo cùng các bạn của mình là Triệu Văn T, Bàn QA trú tại thôn CT, xã TQ, huyện Yên Sơn đến nhà chị Lý Thị H1 tại thôn 4, xã LQ, huyện Yên Sơn chơi mục đích đón bạn là Bàn Văn C do C gọi điện thoại nói bị người khác chặn đánh. Khi đi anh Bàn QA có vào xưởng cơ khí của ông Bàn Văn N ở ngã 3 thôn CT, xã TQ, huyện Yên Sơn lấy 03 con dao và đưa cho bị cáo 01 con dao, đưa cho T 01 con dao, QA cầm 01 con dao sau đó tất cả cùng đi đến nhà của chị H1, việc mang dao đi là để tự vệ chứ không xác định đánh, chém ai cụ thể. Sau khi đến nhà H1, bị cáo và T, QA gặp C và có La Văn Đ, Tướng Văn Đ, sau đó cùng nhau ngồi uống rượu tại nhà chị H1. Đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 26/01/2020, Đ và Đ đi về trước, một lúc sau bị cáo và các bạn cũng về. Khi về đến ngã 3 cạnh nhà văn hóa thôn 4, xã LQ thì gặp Đ, Đ nên dừng xe lại để nói chuyện, thì bất ngờ Đ đi đến đối diện bên trái dùng tay phải đấm 01 phát trúng vào vùng mắt trái của bị cáo rồi bỏ chạy, do bị đánh bất ngờ bị cáo bực tức liền rút con dao dắt sẵn ở bụng xe đuổi theo Đ và chém gây thương tích cho Đ. Do trời tối nên bị cáo chém vu vơ không xác định được vị trí chém. Bị cáo xác định từ trước đến khi gây thương tích cho anh Đ, bị cáo và anh Đ không mâu thuẫn, thù hằn gì nhau, do bị cáo bị anh Đ đánh trước nên tức giận, bột phát không kiềm chế được bản thân đã gây thương tích cho anh Đ, việc bị cáo gây thương tích cho anh Đ là do mình bị cáo, không có ai hỗ trợ hay giúp sức. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo rất ăn năn hối hận và đã bồi thường cho anh Đ tổng cộng 80.000.000 đồng, bị cáo xin anh Đ tha thứ và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại anh La Văn Đ khai trong hồ sơ và đơn xin xét xử vắng mặt như sau: Trước khi bị cáo gây thương tích cho anh vào đêm 26/01/2020 anh còn uống rượu với bị cáo tại nhà chị Lý Thị H1, sau khi ở nhà chị H1 về trước đến ngã 3 cạnh nhà văn hóa thôn 4, xã LQ thì anh dừng lại để gặp bị cáo, mục đích gặp để nói chuyện về việc trước đây đi chơi anh từng bị bị cáo chặn đánh. Khi gặp bị cáo do bực tức nên anh đã đi đến đối diện bên trái bị cáo dùng tay phải đấm 01 phát trúng vào vùng mắt trái của bị cáo sau đó bỏ chạy, bị cáo cầm dao chạy theo dùng dao chém gây thương tích cho anh, dẫn đến anh bị thiệt hại 45%(Bốn mươi lăm phần trăm) sức khỏe. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã bồi thường cho anh 70.000.000 đồng, anh xác định sự việc bị cáo gây thương tích cho anh do anh có lỗi trước, anh xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, anh yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm cho anh 10.000.000 đồng để anh mua thuốc điều trị thương tích.

Những người làm chứng có mặt tại hiện trường nơi bị cáo gây thương tích cho anh La Văn Đ vào đêm 25/01/2020, rạng S ngày 26/01/2020 là anh T, C có mặt tại phiên tòa đều khai: Nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo gây thương tích cho anh Đ là do anh Đ có hành vi đấm mạnh vào mặt bị cáo trước, trước khi bị cáo gây thương tích cho anh Đ thì các bên không có mâu thuẫn gì với nhau, chỉ có một mình bị cáo là người gây thương tích cho anh Đ.

Lời khai nhận tội của bị cáo, lời khai của bị hại và những người làm chứng, cùng toàn bộ những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 26/01/2020, tại khu vực ngã ba đường liên thôn thuộc thôn 4, xã LQ, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, do bị La Văn Đ sinh N 1999 trú tại thôn 4, xã LQ, huyện Yên Sơn dùng tay đấm 01 phát vào vùng mắt trái rồi bỏ chạy nên Chu Văn S trú tại thôn CT, xã TQ, huyện Yên Sơn đã có hành vi đuổi theo và dùng 01 con dao loại dao tư bằng kim loại có chuôi gỗ dài 45,1cm, bản dao và lưỡi dao dài 29,9cm, bản dao chỗ rộng nhất là 5,3cm chém 01 phát trúng vai phải, 01 phát trúng vào trán bên phải của La Văn Đ gây thương tích, tổn hại 45% (Bốn mươi lăm phần trăm) sức khỏe.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Trước thời điểm phạm tội bị cáo và bị hại còn ăn cơm uống rượu với nhau, nhưng sau đó chỉ vì nguyên nhân nhỏ do bị hại dùng tay đấm vào mắt mà bị cáo đã có hành vi đuổi theo và dùng dao là hung khí nguy chém gây thương tích, tổn hại 45% (Bốn mươi lăm phần trăm) sức khỏe cho bị hại. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo không những vi phạm pháp luật hình sự, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Vì vậy cần buộc bị cáo phải chấp hành mức hình phạt tù giam nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng; bị cáo được H1 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo T khẩn; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại La Văn Đ có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị hại Đ có một phần lỗi. Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là do lỗi của bị hại trước, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử bị cáo mức án dưới khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

. Về bồi thường dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 80.000.000 đồng, tại phiên tòa bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về vật chứng: Đối với vật chứng là 01 mảnh bê tông có kích thước (5,8x9,7x12,5)cm; một số cây cỏ còn gốc và ngọn; 01 con dao tư bằng kim loại chuôi gỗ dài 45,1cm; 01 con dao tự chế loại dao bầu hàn vào ống kim loại dài 62,8cm; 01 con dao tự chế màu trắng bạc dài 30,8cm cần tuyên tịch thu tiêu hủy;

Đối với vật chứng là 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu trắng có kẻ viền đen ở vai áo mặt sau có vết rách hình chữ L kích thước (1x2,2)cm; 01 chiếc áo khoác phao màu đỏ đen mặt sau có vết rách dài 6,3cm rộng 0,4cm; 01 đôi dép lê đế màu vàng quai màu xanh là của bị hại, xét thấy vật chứng trên giá trị sử dụng thấp, bị hại không xin lại nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

. Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với hành vi La Văn Đ dùng tay đấm Chu Văn S ngày 26/01/2020, Công an huyện Yên Sơn đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 149/QĐ-XPHC ngày 29/5/2020 đối với Đ. Hình thức phạt tiền: 2.250.000 đồng nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự:

- Tuyên bố: Bị cáo Chu Văn S phạm tội "Cố ý gây thương tích".

- Xử phạt: Bị cáo Chu Văn S 03 (ba) N 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam 26/01/2020.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh bê tông có kích thước (5,8x9,7x12,5)cm; một số cây cỏ còn gốc và ngọn; 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu trắng có kẻ viền đen ở vai áo mặt sau có vết rách hình chữ L kích thước (1x2,2)cm; 01 chiếc áo khoác phao màu đỏ đen mặt sau có vết rách dài 6,3cm rộng 0,4cm; 01 đôi dép lê đế màu vàng quai màu xanh; 01 con dao tư bằng kim loại chuôi gỗ dài 45,1cm; 01 con dao tự chế loại dao bầu hàn vào ống kim loại dài 62,8cm; 01 con dao tự chế màu trắng bạc dài 30,8cm.

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Sơn với Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Sơn, lập ngày 03/7/2020).

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

- Bị cáo Chu Văn S phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ