- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Cao T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Cao T (tên gọi khác: Lê Cao H) phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN V H TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2020/HS-ST Ngày 26 tháng 8 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V H, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lường Văn Nga và ông Mùi Văn Quân.
- Thư K phiên tòa: Ông Nguyễn Bình Phương - Thư K Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệnVH tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hương Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2020/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2020, đối với bị cáo:
Lê Cao T, tên gọi khác: Lê Cao H, sinh năm 1977, tại K B, Hà Nam.
Nơi cư trú: T K 8, thị trấn M Ch, huyện M Ch, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Mạnh H và bà Phạm Thị Th; bị cáo có vợ là Lê Thị H (đã ly hôn) và một con chung sinh năm 2001.
- Tiền sự: không.
- Nhân thân:
+ Ngày 04/11/2004 TAND huyện M Ch, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy căn cứ vào khoản 1 điều 194 BLHS 1999.
+ Ngày 07/9/2006 TAND huyện M Ch, tỉnh Sơn La xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy căn cứ vào khoản 1 điều 194 BLHS 1999.
- Ngày 17/5/2010 UBND huyện M Ch ban hành quyết định số 357 bắt buộc đi cai nghiện tại Trung tâm giáo dục lao động huyện M Ch. Ngày 29/12/2013 UBND huyện M Ch ban hành quyết định số 243 đưa vào cơ sở chữa bệnh tại Trung tâm giáo dục lao động huyện M Ch.
- Tiền án: Ngày 31/3/2017 TAND huyện M Ch, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy căn cứ vào khoản 1 điều 194 BLHS 1999. Chấp hành xong án phạt tù ngày 01/02/2019.
Bị cáo bị bắt tạm giam, tạm giữ từ ngày 06/4/2020 cho đến nay. Có mặt.
- Người có QLNVLQ: Anh Lê Văn K, sinh năm 1992, địa chỉ: T K 8, thị trấn M Ch, huyện M Ch, tỉnh Sơn La. Có (vắng) mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 05 giờ 30 phút, ngày 06/4/2020, tại bản P Kh, xã L L, huyện VH, tỉnh Sơn La. Tổ công tác công an huyện VH dừng xe máy BKS 26G1 – 113.53 do Lê Cao T điều khiển, kiểm tra phát hiện bắt quả tang Lê Cao T tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ là 01 túi nilon màu xanh, đang treo trên móc treo đồ trên xe, bên trong có hộp bánh màu xanh, đựng 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 03 vỏ bánh hiệu Peppie, trong ba vỏ bánh bên trong có 03 gói, bên ngoài đều được bọc nilon màu trắng, tiếp đến là nilon màu đen, bên trong cùng là túi nilon màu xanh, mỗi túi đều đựng 195 viên nén màu hồng, bề mặt có K hiệu WY, T khai nhận dó là Methamphetamine (Ma túy tổng hợp). T khai nhận, ngày 04/4/2020, tại chợ trung tâm thị trấn M Ch, T đã gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết dịa chỉ, tự giới thiệu là T ở bản C T hỏi mua ma túy. T nhất trí, hẹn tối ngày 05/4/2020 gặp T ở đầu bản C T để giao dịch mua bán ma túy. Khoảng 19 giờ ngày 05/4/2020, T mượn xe máy BKS 26G1 – 113.53 của em trai là Lê Văn K để đến nơi hẹn T. Đến nơi, T dẫn T vào một nhà hoang, T hỏi mua của T 03 gói Hồng Phiến. T đồng ý, đi ra khỏi nhà khoảng 30 phút, rồi quay lại dưa cho T 03 gói nilon màu xanh và được T trả 15.000.000 đồng. T nhặt mảnh nilon dưới nền nhà, bọc bên ngoài mỗi gói Hồng phiến vừa mua được một lớp màu đen và một lớp màu trắng, sau dó cho vào 03 chiếc vỏ bánh nhãn hiệu Peppie màu xanh, rồi bỏ toàn bộ 03 gói vào trong hộp bánh mang theo trước đó. T lại cho hộp bánh vào hai lớp túi bóng màu xanh và màu trắng treo tại móc để đồ bên trái phía trước xe máy rồi ngủ lại nhà hoang. Khoảng 05 gờ sáng ngày 06/4/2020, T dậy điều khiển xe máy quay về đến địa phận bản P Kh, xã L L thì bị phát hiện bắt giữ.
Cơ quan điều tra đã niêm phong vật chứng, tạm giữ của T 01 chiếc xe máy BKS 26G1 – 113.53, 01 điện thoại di động, số tiền 900.000 đồng, 01 túi nilon màu xanh đã qua sử dụng, 01 túi nilon màu trắng đã qua sử dụng, 03 vỏ bánh hiệu Peppie màu xanh, 01 vỏ hộp bánh hiệu Peppie màu xanh và dẫn giải bị cáo về Cơ quan điều tra để xử lý.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành cân tịnh 03 gói đựng viên nén màu hồng thu giữ của Lê Cao T, xác định có khối lượng như sau:
- Gói thứ nhất có 195 viên nén, có tổng khối lượng 18,96 gam, lấy 0,49 gam, K hiệu T làm mẫu gửi giám định.
- Gói thứ hai có 195 viên nén, có tổng khối lượng 18,75 gam, lấy 0,48 gam, K hiệu T2 làm mẫu gửi giám định.
- Gói thứ ba có 195 viên nén, có tổng khối lượng 18,82 gam, lấy 0,47 gam, K hiệu T4 làm mẫu gửi giám định.
Kết luận giám định số 598/KLMT ngày 12/4/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận "Mẫu gửi giám định K hiệu T, T2, T4 là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là T = 0,49 gam, T2 = 0,48 gam, T4 = 0,47 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 56,53 gam, loại Methamphetamine. Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”
Kết luận giám định số 611 ngày 17/4/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận về 09 tờ tiền đều ghi mệnh giá 100.000 đồng thu giữ của Lê Cao T thì: "Số tiền VNĐ gửi giám định là tiền thật”
Quá trình điều tra xác định được, chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 26G1 – 113.53 mà bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, thuộc quyền sở hữu của anh Lê Văn K (em ruột bị cáo). Việc T mượn xe nói đi chợ, không nói cho K biết T sử dụng vào mục đích phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho anh Lê Văn K quản lý, sử dụng.
Cáo trạng số 60/CT – VKS ngày 29/7/2020 của VKSND huyện VH, truy tố Lê Cao T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 3 điều 249 BLHS. Tại phiên tòa, kiểm sát viên vẫn bảo vệ nội dung Cáo trạng truy tố bị cáo, đề nghị HĐXX xem xét: Tuyên bố Lê Cao T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
* Áp dụng điểm b khoản 3 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lê Cao T từ 11 năm 06 tháng đến 12 năm tù.
+ Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
+ Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu để tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 55,09 gam Methamphetamine và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Lê Cao T, 01 túi nilon màu xanh đã qua sử dụng, 01 túi nilon màu trắng đã qua sử dụng, 03 vỏ bánh hiệu Peppie màu xanh, 01 vỏ hộp bánh hiệu Peppie màu xanh.
Tạm giữ của bị cáo 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án phí, Trả lại bị cáo số tiền 700.000 đồng và 01 điện thoại di động.
+ Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Do nghiện ma túy, Lê Cao T đã gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông, tự giới thiệu tên T, ở bản Co Tang, xã Lóng Luông 585 viên Hồng Phiến, tổng khối lượng 56,53 gam, với giá 15.000.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân, trên đường quay về thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 3 điều 249 BLHS. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định chất ma túy của Phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La, biên bản ghi lời khai, hỏi cung, bản tự khai của bị cáo và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa...
Tính chất hành vi của bị cáo: Bị cáo nghiện ma túy, phạm tội gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt tù về tội ma túy, đã từng bị xử lý hành chính bắt buộc cai nghiện, đưa vào cơ sở chữa bệnh, lại phạm tội rất nghiêm trọng trong khi chưa được xóa án tích, là tái phạm. Cần xử phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, nên được HĐXX xem xét cho hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện VH, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện VH, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. HĐXX xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án Điều tra viên, Kiểm sát viên chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 249 BLHS, bị cáo có thể bị phạt tiền. Xét thấy bị cáo không có khả năng thi hành, nên không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 55,09 gam Methamphetamine và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Lê Cao T, 01 túi nilon màu xanh đã qua sử dụng, 01 túi nilon màu trắng đã qua sử dụng, 03 vỏ bánh hiệu Peppie màu xanh, 01 vỏ hộp bánh hiệu Peppie màu xanh, là những vật bị cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu để tiêu hủy.
Số tiền 900.000 đồng và 01 điện thoại di động thu giữ của bị cáo, là tài sản không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo, cần tuyên trả lại bị cáo, nhưng tạm giữ 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án phí.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 26G1 – 113.53 mà bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, thuộc quyền sở hữu của anh Lê Văn K (em ruột bị cáo). Việc T mượn xe và sử dụng vào mục đích phạm tội K không biết và không liên quan. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho anh Lê Văn K quản lý, sử dụng là có căn cứ. Tại phiên tòa, anh Lê Văn K không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, do vậy, không xem xét vấn đề bồi thường trong vụ án này.
Về nguồn gốc chất ma túy: Bị cáo khai đã mua số ma túy trên của một người đàn ông dân tộc Mông, tên là T khoảng 50 tuổi, ở bản C T, xã L L. Nhưng T không biết và không nhớ địa chỉ, đặc điểm nơi ở của người này. Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý trong vụ án này, cần chấp nhận.
Bị cáo phạm tội, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 3 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự;
1. Tuyên bố bị cáo Lê Cao T (tên gọi khác: Lê Cao H) phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt: Lê Cao T 11 (Mười một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tình từ ngày 06/4/2020.
Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Áp dụng các điểm a, c khoản 1 điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 55,09 gam Methamphetamine và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Lê Cao T, 01 túi nilon màu xanh đã qua sử dụng, 01 túi nilon màu trắng đã qua sử dụng, 03 vỏ bánh hiệu Peppie màu xanh, 01 vỏ hộp bánh hiệu Peppie màu xanh, là những vật bị cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng.
+ Tạm giữ của bị cáo 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án phí, Trả lại bị cáo số tiền 700.000 đồng và 01 điện thoại di động.
Theo biên bản giao vật chứng số: 80/BBVC, ngày 07 tháng 8 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện VH.
+ Chấp nhận việc CQĐT đã trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 26G1 – 113.53 cho anh Lê Văn K quản lý, sử dụng.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có QLNVLQ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Đăng Quang Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAT
- VKS tỉnh, huyện
- CA huyện, CQ THAHS
- THADS
- Sở TP
- Trại Giam
- Bị cáo, người có QLNVLQ;
- Lưu HS, VP.
Nguyễn Đăng Quang THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA Mùi Văn Huấn
Trần Thị Thu Thủy
Nguyễn Đăng Quang
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:
Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:
(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).
(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).
(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.
(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.
(6)ghi đầy đủ họ tên của Thư K phiên tòa và ghi rõ là Thư K Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.
(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.
(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng K thường trú, đăng K tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thânghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.
(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.
(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].
(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ K, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Tòa án cấp sơ thẩm phải giao hoặc gửi bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (K tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |