vanban.org

Bản án 52/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Vũ Bá T.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Bá Duy Khoa, sinh ngày 17 tháng 9 năm 2016 kể từ tháng 10 năm 2020 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Vũ Bá T không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị Nguyễn Thị H. Người trực tiếp nuôi con cùng các tHnh viên gia đình không đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Vũ Bá T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THNH PHỐ UÔNG BÍ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2020/HNGĐ- ST
Ngày: 13/10/2020
"V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

-THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"toà : Bà Nguyễn Thị Giang Thanh.

Các"Hội"thẩm"nhân"dân: Ông Thái Quang Định và bà Phạm Thị Dung

-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Nghĩa - Thư ký Toà án nhân dân tHnh phố Uông Bí.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố Uông Bí tham"gia"phiên"tòa: Bà Nguyễn Bích Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 13/10/2020, tại Phòng xử án - Toà án nhân dân tHnh phố Uông Bí xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 111/2020/TLST - HNGĐ ngày 13/5/2020 về việc " Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 25/9/2020,giữa các đương sự:

1.1.Nguyên"đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1996. Địa chỉ: Tổ 5, khu Liên Phương, phường Phương Đông, tHnh phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2.Bị" đơn: " Anh Vũ Bá T, sinh năm 1995. Địa chỉ: Tổ 5, khu Liên Phương, phường Phương Đông, tHnh phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Về quan hệ hôn nhân:

Theo đơn khởi kiện, trong bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Vũ Bá T đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 14/4/2016, tại Ủy ban nhân dân xã Bình Dương, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Việc kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ai cưỡng ép. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thẫu. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, anh T sống không có trách nhiệm với gia đình, vợ con. Từ đó vợ chồng nhiều lần xảy ra xung đột, cãi vã. Từ tháng 6/2020 chị đã đưa con về nH bố mẹ đẻ sống; vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh T nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Anh Bàn Vũ Bá T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng đều không đến Tòa án giải quyết vụ án. Do vậy không thể hiện được quan điểm của anh T.

* Về con chung: Chị H trình bày: Quá trình chung sống anh chị có 01 (một) con chung là Vũ Bá Duy Khoa, sinh ngày 27/9/2016; hiện nay con chung đang do chị H chăm sóc. Quan điểm của chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

* Về tài sản chung: Chị H trình bày: Quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.

Qua xác minh tại tổ 5, ku Liên Phương, phường Phương Đông, tHnh phố Uông Bí, đại diện khu Nam Phương cho biết: Chị H và anh T quá trình chung sống tại thôn có nhiều bất đồng, mâu thuẫn, do tính cách không phù hợp. Từ tháng 6/2020 chị H đã về nH bố mẹ đẻ sống. Anh chị có 01 (một) con chung là Vũ Bá Duy Khoa, hiện nay chị H đang chăm sóc.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa là đảm bảo theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã cơ bản thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật. Bị đợn không có mặt theo Giấy triệu tập của Tòa án nên vi phạm quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Là tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập xét xử 02 (hai) lần đến phiên tòa, nhưng đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án tiến Hnh xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xem xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Bá T đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 14/4/2016; đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm; vì vậy hay xảy ra xung đột, cãi vã; vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Chị H xác định không còn tình cảm với anh T; mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã được đại diện địa phương nơi anh chị chung sống xác nhận. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H ly hôn với anh T.

Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 01 (một) con chung là Vũ Bá Duy Khoa, sinh ngày 27/9/2016, được hơn 04 (bốn) tuổi. Hiện nay con chung do chị H chăm sóc. Xét cháu Khoa còn nhỏ, giai đoạn này cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ. Chị H có chỗ ở, có việc làm và thu nhập ổn định, đảm bảo việc nuôi dưỡng và giáo dục con. Mặt khác, hiện nay chị H cũng đang trực tiếp chăm sóc con. Vì vậy chấp nhận yêu cầu của chị H, giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Quan điểm của chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy chị H có việc làm và thu nhập ổn định, đảm bảo để nuôi con chung. Anh T nghề nghiệp là lao động tự do và cũng không có quan điểm về việc cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy chấp nhận yêu cầu của chị H, không buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi con cho chị H.

Về tài sản chung: Chị H trình bày quá trình chung sống anh chị không có tài sản chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên không xem xét.

Từ những nhận định trên đây, xét thấy có căn cứ để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Chị H và anh T được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí của Uỷ ban thường vụ quốc hội;

Tuyên xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Vũ Bá T.

2.Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Bá Duy Khoa, sinh ngày 17 tháng 9 năm 2016 kể từ tháng 10 năm 2020 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Vũ Bá T không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị Nguyễn Thị H.

Người trực tiếp nuôi con cùng các tHnh viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3.Về án phí ly hôn: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn; được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền số 0003346 ngày 12/5/2020 của Chi cục thi Hnh án dân sự tHnh phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

4. Chị Nguyễn Thị H và anh Vũ Bá T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ