vanban.org

Bản án 52/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H ly hôn anh Nguyễn Đình Q.

Về con chung: Giao 02 con chung là các cháu Nguyễn Đình Như B, sinh ngày 16/10/2004 và Nguyễn Đình Phương L, sinh ngày 23/6/2010 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động Chị H không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị H và anh Q"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H ly hôn anh Nguyễn Đình Q.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2020/HNGĐ-ST
Ngày 27-7-2020
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Tịnh Thới

Bà Nguyễn Thị Huỳnh Thoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 27/7/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 166/2020/TLST-HNGĐ ngày 08/5/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/7/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/ QĐST- HNGĐ ngày 15/7/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Phạm Thị H, sinh năm 1975 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 2A, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đình Q, sinh năm 1971 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 2A, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 03/5/2020, trong quá trình làm việc, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày: Vào năm 2000, chị và anh Nguyễn Đình Q tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L. Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay cãi vả nhau, ngoài ra anh Q hay ghen tuông vô cớ, thường xuyên đánh đập chị. Nay chị thấy không còn tình cảm với anh Q nữa nên yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Anh chị có 03 con chung tên là Nguyễn Đình T, sinh ngày 31/3/2001; Nguyễn Đình Như B, sinh ngày16/10/2004 và Nguyễn Đình Phương L, sinh ngày 23/6/2010. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu nuôi 02 con chung là cháu Nguyễn Đình Như B và Nguyễn Đình Phương L, chị không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Nguyễn Đình T đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên chị không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

* Trong quá trình làm việc, bị đơn anh Nguyễn Đình Q trình bày:

Anh thống nhất trình bày của chị H về điều kiện kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung.

Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, anh cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, có lần do chị H đi chơi về muộn nên anh có nói nặng lời, chị H thể hiện thái độ không tôn trọng anh nên anh có dùng cây đánh chị H, chị H bực tức nên mới ly hôn với anh. Nay chị H yêu cầu ly hôn thì anh không đồng ý vì anh vẫn còn tình cảm với chị H.

Về con chung: Nếu Tòa án giải quyết cho chị H ly hôn thì anh cầu nuôi 02 con chung là cháu Nguyễn Đình Như B và Nguyễn Đình Phương L, anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Nguyễn Đình T đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên anh không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc:

Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo đúng quy định pháp luật về tố tụng. Nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H, chị H được ly hôn với anh Q; Về con chung: giao con chung cho chị H nuôi, chị H không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết; tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tư cách tham gia tố tụng: Chị Phạm Thị H có đơn khởi kiện ly hôn với anh Nguyễn Đình Q, do đó xác định chị H là nguyên đơn, anh Q là bị đơn.

Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Đình Q đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh Q là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Đình Q tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau năm 2000 tại Ủy ban nhân dân xã H, do đó quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

Xét yêu cầu của đương sự nhận thấy: Chị H yêu cầu được ly hôn, anh Q không đồng ý ly hôn vì cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn, anh còn thương chị H. Tuy nhiên, chị H trình bày anh Q hay đánh chị và anh Q cũng thừa nhận là có đánh chị H. Mặt khác, vào tháng 02 năm 2020 chị H có nộp đơn ly hôn với anh Q tại Tòa án, sau đó lại rút đơn về vì chị muốn cho anh Q cơ hội nhưng anh Q vẫn không thay đổi. Như vậy, có cơ sở khẳng định tình trạng hôn nhân của chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Đình Q mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị H theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị H và anh Q đều có nguyện vọng nuôi con chung, xét thấy các cháu Nguyễn Đình Như B và Nguyễn Đình Phương L có nguyện vọng được sống với mẹ, nên giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và nguyện vọng của con chung.

Chị Phạm Thị H không yêu cầu anh Nguyễn Đình Q cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Đối với cháu Nguyễn Đình T, sinh ngày 31/3/2001đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không giải quyết.

Về tài sản chung: Chị H, anh Q không yêu cầu nên không giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không giải quyết.

Về án phí: Chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 5, 6,7, 8 của Luật Hôn và nhân gia đình năm 1986; Điều 131, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về Án phí và Lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H ly hôn anh Nguyễn Đình Q.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là các cháu Nguyễn Đình Như B, sinh ngày 16/10/2004 và Nguyễn Đình Phương L, sinh ngày 23/6/2010 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động

Chị H không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Đối với cháu Nguyễn Đình T, sinh ngày 31/3/2001 đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không giải quyết.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung được pháp luật bảo vệ.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009172 ngày 04/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc được chuyển thành án phí.

Chị Phạm Thị H, anh Nguyễn Đình Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ