- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hai - Dat"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị H. Cho ly hôn giữa chị Phan Thị H đối với anh Nguyễn Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2020/HNGĐ-ST. Ngày 07-8-2020. V/v Ly hôn, tranh chấp vê nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Trưởng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Diễm;
Ông Lê Đình Nhung.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Hảnh là Thư ký Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Lớn - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 118/2020/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2020 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị H, sinh năm 1995; địa chỉ cư trú: Xóm X, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1992; địa chỉ cư trú: Khu phố A, phường AT, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Phan Thị H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn từ năm 2017, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã AT (nay là phường AT) ngày 23/3/2017. Sau khi chung sống, anh chị thuê nhà trọ sống cùng đi làm đến tháng 6 năm 2017 chị về nhà cha mẹ sinh con thì ly thân cho đến nay, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Nhật Đăng A, sinh ngày 30/6/2017, hiện đang sống với chị.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Nay chị H yêu cầu ly hôn với anh Đ. Khi ly hôn: Về con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 25 tháng 6 năm 2020, bị đơn anh Nguyễn Văn Đ trình bày:
Nhận thấy thống nhất lời trình bày của chị H về hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn, về con chung, tài sản chung và nợ chung. Nguyện vọng anh Đ đồng ý ly hôn với chị H. Khi ly hôn: Anh đồng ý giao chị H tiếp tục nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:
Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình xem xét quyết định:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị H.
- Về con chung: Nguyễn Nhật Đăng A, sinh ngày 30/6/2017 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHAÄN ÑÒNH CUÛA TOØA AÙN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử là phù hợp theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị H và anh Đ tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã AT (nay là phường AT) ngày 23/3/2017. Anh chị thừa nhận trong quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và tự ly thân từ tháng 6 năm 2017 cho đến nay. Nay chị H và anh Đ cùng yêu cầu được ly hôn. Tuy nhiên, anh chị vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không công nhận sự thuận tình ly hôn mà có căn cứ khẳng định mâu thuẫn giữa chị H và anh Đ là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Cháu Nguyễn Nhật Đăng A, sinh ngày 30/6/2017 đang sống với chị H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung phù hợp với nguyện vọng anh Đ. Do đó, để bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho con chung, cần giao cháu A cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu. Anh Đ được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
[5] Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Chị H là nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử :
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị H. Cho ly hôn giữa chị Phan Thị H đối với anh Nguyễn Văn Đ.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Nhật Đăng A, sinh ngày 30/6/2017 cho chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu. Anh Đ được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Phan Thị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018008 ngày 05/3/2020 của Chi Cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng; chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND T.Tây Ninh; - VKS TX. Trảng Bàng; - Chi cục THADS TX. Trảng Bàng; - Ủy ban nhân dân phường AT; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - Các đương sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Văn Trưởng |