vanban.org

Bản án 52/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 28/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Đ c H phạm tội Trộm c p tài sản chưa đạt

Căn c vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 15 và Điều 57 Bộ luật Hình sự . Xử phạt bị cáo Lê Đ c H 01 một năm t , thời hạn t t nh t ngày b t thi hành án, bị cáo được t nh tr thời gian tạm giam t ngày 29/10/2018 đ n ngày 04/01/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Đắc H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Đ c H phạm tội Trộm c p tài sản chưa đạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52 / 2019/HS-ST
Ngày 28 – 02 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

Thư ký ghi iên n phiên tòa toà: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Chi n, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2019/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2019, theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số 54/2019/HSST-QĐ ngày 18/02/2019 đối với bị cáo:

Lê Đ c H, sinh năm 1991 tại tỉnh Nghệ An; thường trú: Xóm 5 xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An; tạm trú: 56/9/7 đường số 6, khu phố 3, phường T, quận Đ, Thành phố Hồ Ch Minh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Đ c H1, sinh năm 1950 và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1952; có vợ tên Tr n Thị T, sinh năm 1996 và 01 con sinh năm 2015; tiền sự, tiền án: Kh ng có.

Nhân thân:

+ Ngày 28/8/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Tân K , tỉnh Nghệ An xử phạt 9 tháng t cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Trộm c p tài sản, theo bản án số 36

+ Ngày 25/12/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Tân K , tỉnh Nghệ An xử phạt 1 năm 3 tháng t về tội Trộm c p tài sản, t ng hợp hình phạt 09 tháng t cho hưởng án treo của bản án số 36 ngày 28/8/2014 bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung 2 năm t theo bản án số 52, bị cáo chấp hành xong hình phạt t ngày 02/8/2016.

Bị cáo bị b t tạm giam ngày 29/10/2018 đ n ngày 04/01/2019 được hủy b biện pháp tạm giam b ng biện pháp cấm đi kh i nơi cư trú, có m t.

Bị hại: Anh Tr n Đại H2, sinh năm 1971; thường trú: 13/10 khu phố L phường H, thị xã K, tỉnh Bình Dương, v ng m t.

Người có quyền lợi, ngh a v liên quan đến v án:

1.Anh Tr n Xuân H3, sinh năm 1993; thường trú: 19 t 6 ấp M2, xã T, Thành phố H, tỉnh Đồng Nai, v ng m t.

2. Chị Tr n Thị T, sinh năm 1996; tạm trú: 56/9/7 đường số 6, khu phố 3, phường T, quận Đ, Thành phố Hồ Ch Minh, có m t.

Người chứng kiến:

1. Anh Tr n Thanh T, sinh năm 1980

2. Anh Trương Văn L, sinh năm 1999

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 29/10/2018, bị cáo Lê Đ c H được người tên Tuấn kh ng r nhân thân nhờ ra c u vượt Linh Xuân, quận Thủ Đ c, Thành phố Hồ Ch Minh đón Tuấn, H điều khiển xe m t nhãn hiệu Yamaha upiter, màu đ đen, xe kh ng có biển số đi đón Tuấn, g p Tuấn, H đưa xe cho Tuấn điều khiển còn mình ngồi sau, trên đường đi về Tuấn rủ H đi trộm c p tài sản đồng thời đưa H 01 đoản hình ch T và 03 đ u đoản, 01 cục đồng hình vu ng d ng mở khóa t , khoảng 19 giờ c ng ngày cả hai lưu th ng đ n trước tiệm Nét 79 thuộc khu phố Tân Th ng, phường Tân Bình, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương g p 01 xe m t nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 90B2-390.88 của anh Tr n Đại H2 đang dựng trước cửa tiệm, Tuấn d ng xe cách xe m t biển số 90B2-390.88 khoảng 10m, H đi đ n ti p cận xe m t , do xe mô tô anh H2 khóa t , H d ng cục đồng mở khóa t , d ng đoản tra vào khóa để b thì bị anh Tr n Thanh T, Trương Văn L đang ngồi ở ph a đối diện xe m t của anh H2 theo d i t trước chạy đ n b t gi H, Tuấn b lại xe m t chạy bộ tẩu thoát. Anh T, L báo C ng an phường Tân Bình đ n lập biên bản phạm tội quả tang đối với H.

Vật ch ng thu gi : 01 xe m t nhãn hiệu Yamaha upiter, màu đ đen, xe không mang biển số; 01 xe m t nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 90B2-390.88; 03 đ u đoản, 01 kim loại ch T màu tr ng; 01 cục đồng hình vu ng.

K t luận định giá tài sản số 305/BB.ĐG ngày 13/11/2018 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An k t luận xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 90B2-390.88 màu tr ng, đen, đ trị giá 33.000.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Tr n Đại H2 đã nhận lại xe m t nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 90B2-390.88, anh H2 kh ng có yêu c u bồi thường gì khác.

Cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 28/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Đ c H về tội “Trộm c p tài sản” theo khoản 1 Điều 173 và Điều 15 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong ph n tranh luận đại diện Viện kiểm sát gi nguyên quy t định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá t nh chất m c độ hành vi phạm tội, tình ti t tăng n ng trách nhiệm hình sự, tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 15, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 57 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo H t 9 đ n 12 tháng t .

Về vật ch ng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 03 đ u đoản, 01 kim loại ch T màu tr ng; 01 cục đồng hình vu ng.

Đối với xe m t nhãn hiệu Yamaha upiter, màu đ đen, xe kh ng mang biển số là tài sản chung của chị Tr n Thị T và bị cáo H, đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước trị giá xe và trả lại chị T giá trị xe.

Trước khi hội đồng xét xử nghị án, bị cáo H nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận việc mình làm, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ m c án thấp nhất cho bị cáo vì hiện tại hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, con của bị cáo còn nh , vợ bị cáo đang mang thai đ a con th hai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đ n vụ án không có ý ki n hay khi u nại gì về hành vi, quy t định của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Lê Đ c H khai nhận vào lúc 19 giờ 30 ngày 29/10/2018 bị cáo lén lút sử dụng 01 đoản b khóa xe hình ch T , cục đồng hình vu ng do người tên Tuấn đưa để bé khóa xe m t nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 90B2-390.88 của anh Tr n Đại H2 có trị giá 33.000.000 đồng, H mới mở được khóa t , chưa di chuyển được xe thì bị anh Tr n Thanh T, Trương Văn L phát hiện b t gi .

Điều 173 Tội trộm cắp tài sản, Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

Điều 15 Phạm tội chưa đạt.

Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

Như vậy, hành vi trên của bị cáo H đủ y u tố cấu thành tội Trộm c p tài sản quy định khoản 1 Điều 173 và Điều 15 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 58/CT – VKS ngày 28/01/2019 của Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên ngày h m nay đối với bị cáo là có căn c , đúng pháp luật.

Về t nh chất m c độ tội phạm: Tội phạm do bị cáo H thực hiện là t nghiêm trọng, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện phạm tội một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, kh ng nh ng xâm phạm trực ti p đ n tài sản của anh Tr n Đại H2 được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đ n tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, c n xử phạt bị cáo H m c án t có thời hạn tương x ng với t nh chất m c độ tội phạm bị cáo thực hiện, có xét đ n các tình ti t tăng n ng trách nhiệm hình sự, tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người c ng dân có ch cho gia đình, xã hội cũng như có tác dụng đấu tranh, phòng ng a chung.

Về tình ti t tăng n ng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không có.

Về tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình ti t trên được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự .

Về nhân thân: Bị cáo H có nhân thân xấu thể hiện việc đã 02 l n phạm tội Trộm c p tài sản, bị cáo bị xử phạt t , sau khi chấp hành xong về hòa nhập cộng đồng, bị cáo ti p tục phạm tội thể hiện sự kh ng hướng thiện của bản thân cũng như việc chấp hành pháp luật của bị cáo.

Trong vụ án còn có người tên Tuấn c ng tham gia thực hiện việc chi m đoạt tài sản c ng bị cáo H. Do Tuấn kh ng xác định được nhân thân, C ng an thị xã Dĩ An tách xác minh xử lý sau là đúng quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Tr n Đại H2 đã nhận tài sản là xe m tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 90B2-390.88 và kh ng có yêu c u bồi thường gì khác. Do vậy, Hội đồng xét xử kh ng xét.

Về vật ch ng: 03 đ u đoản, 01 kim loại ch T màu tr ng; 01 cục đồng hình vu ng vật ch ng sử dụng vào việc phạm tội, c n tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe m t nhãn hiệu Yamaha upiter, màu đ đen, xe kh ng mang biển số là tài sản chung của chị Tr n Thị T và bị cáo H, c n tịch thu sung vào ngân sách nhà nước trị giá xe và trả lại chị Trang giá trị xe.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, việc xử lý vật ch ng và m c hình phạt đối với bị cáo H quan điểm trên ph hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận.

Án ph sơ thẩm: Bị cáo H phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Đ c H phạm tội Trộm c p tài sản chưa đạt

Căn c vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 15 và Điều 57 Bộ luật Hình sự .

Xử phạt bị cáo Lê Đ c H 01 một năm t , thời hạn t t nh t ngày b t thi hành án, bị cáo được t nh tr thời gian tạm giam t ngày 29/10/2018 đ n ngày 04/01/2019.

2. Về vật ch ng: Căn c Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 89, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước giá trị xe m t nhãn hiệu Yamaha upiter màu đ đen, số khung MH3UG0710 K255349, số máy G3E6E0391875. Trả lại cho chị Tr n Thị T giá trị xe trên.

Tịch thu tiêu hủy 01 cây đoản b ng kim loại hình ch T; 01 một khẩu trang y t màu xám tr ng. Theo biên bản giao nhận vật ch ng ngày 30/01/2019

3. Về án ph : Căn c Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14.

Bị cáo Lê Đ c H phải nộp 200.000đồng hai trăm nghìn đồng tiền án ph Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đ n vụ án có m t có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên đ n vụ án v ng m t có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản án ho c bản án được niêm y t.

Cỡ chữ