- Tranh chấp gì? án hình sự — "52 - 2019 Do Thi Huynh L K1-173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị Huỳnh L (tên gọi khác: Thảo) 09 (Chín) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính kể từ ngày 30/11/2018.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2019/HS-ST Ngày: 29 – 3 – 2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Năm.
2/ Bà Thái Thục Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Mai Ngọc Linh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 3 năm 2019, tại trụ s Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2019/QĐXXST-HS ngày 15/3/2019 đối với bị cáo: Đỗ Thị Huỳnh L (tên gọi khác: Thảo), sinh ngày 03/02/1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: (Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Số 1280/37 Đường H, Phường N, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ : Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn V và bà Nguyễn Thị M; chung sống như vợ chồng với Lý Minh Quốc A và có 03 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 30/11/2018. (Có mặt).
- Bị hại: Chị Bùi Ngọc Đan Th, sinh ngày 10/7/2000; nơi cư trú: Số 51/1 đường
số 6, Đường LĐT, Phường ML, quận GV, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 17 giờ 45 phút, ngày 13/9/2018, Đỗ Thị Huỳnh L điều khiển xe gắn máy Luvias, biển số 59Y2-19709 ch Lý Minh Chí X (con ruột của L sinh năm 2009) đến tiệm thuốc tây Trung Nghĩa, Phường B, Quận T. Khi đến nơi L dựng xe trước tiệm, Tâm ngồi trên xe còn L đi vào mua thuốc. Lúc này L phát hiện có một giỏ xách màu đen để chỗ chân xe máy vision trước tiệm thuốc nên L nảy sinh ý định trộm cắp tài sản; sau đó, L đi đến lấy chiếc giỏ xách và quay lại đưa cho Tâm cầm rồi L lên xe nổ máy tẩu thoát thì bị chị Bùi Ngọc Đan Th phát hiện truy hô, L nhanh chóng điều khiển xe bỏ chạy thì bị quần chúng nhân dân truy đuổi, do thắng xe gấp nên L bị ngã xe và bị bắt giữ. Sau đó, Công an Phường B, Quận T nhận được tin báo sự việc nên đã đến và đưa L cùng toàn bộ vật chứng về trụ s Công an phường làm việc. Tại trụ s Công an Phường B, Quận T; qua kiểm tra bên trong giỏ xách có 01 bóp da và số tiền 7.862.500 đồng. Sau đó, toàn bộ vụ việc được chuyển đến Cơ quan điều tra Công an Quận T để điều tra làm rõ.
Tại Cơ quan điều tra, L đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của bị hại như trên.
Ngày 22/10/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận T có kết luận xác định giá trị 01 giỏ xách màu đen có trị giá là 400.000 đồng và 01 bóp da trị giá là 70.000 đồng.
Ngày 22/11/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho chị Bùi Ngọc Đan Th các tài sản nêu trên.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu ViVo, màu đen, gắn số sim sử dụng: 012 65292766 và 01 điện thoại di động màu đen, không rõ nhãn hiệu đã thu giữ của Đỗ Thị Huỳnh L. Ngày 27/9/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T đã trả lại 02 chiếc điện thoại di động nêu trên cho Đỗ Thị Huỳnh L do không có liên quan đến vụ án.
Đối với 01 chiếc xe mô tô, biển số 59Y2-197.09; qua xác minh chiếc xe trên của anh Lý Minh Quốc A. Ngày 30/11/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T ra quyết định xử lý vật chứng trả chiếc xe trên cho anh Lý Minh Quốc A do không có liên quan đến hành vi phạm tội của Đỗ Thị Huỳnh L.
Bản cáo trạng số 49/CT – VKS ngày 12/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đỗ Thị Huỳnh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 173, các điểm: h, i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Đỗ Thị Huỳnh L mức án từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; của Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Thị Huỳnh L đã khai nhận toàn bộ hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản là 01 (một) chiếc giỏ xách màu đen, bên trong có 01 (một) bóp da màu xám và số tiền 7.862.500 đồng của bị hại là chị Bùi Ngọc Đan Th, vào khoảng 17 giờ 45 phút, ngày 13/9/2018, tại khu vực trước tiệm thuốc tây Trung Nghĩa (số 18 đường Đông Hồ, Phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh). Trên đường tẩu thoát thì bị phát hiện bắt giữ cùng toàn bộ vật chứng.
Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 8.332.500 đồng.
Như vậy, tài sản chiếm đoạt thuộc trường hợp tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng. Do đó, đã có đủ cơ s để kết luận: Bị cáo Đỗ Thị Huỳnh L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản đã thu hồi và trả lại cho bị hại, nên gây thiệt hại không lớn; tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm: h, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Bản cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo L là có cơ s pháp luật, đúng người, đúng tội, mức án mà Kiểm sát viên đề nghị phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị cáo còn có thể bị phạt một số tiền nhất định để nộp ngân sách nhà nước. Nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và khó thi hành; nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác; tại phiên tòa vắng mặt. Đây là quyền tự định đoạt của đương sự, nên không xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T đã trả lại các tài sản bị chiếm đoạt cho bị hại và trả lại chiếc xe mô tô biển số 59Y2-197.09 cho chủ s hữu hợp pháp, đồng thời cũng trả lại các tài sản đã thu giữ của bị cáo L; là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Đối với hành vi của Lý Minh Chí X (con ruột của bị cáo L), Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận T không xử lý là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; các điểm: h, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị Huỳnh L (tên gọi khác: Thảo) 09 (Chín) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính kể từ ngày 30/11/2018.
Về hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung đối với bị cáo Đỗ Thị Huỳnh L (tên gọi khác: Thảo).
Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Đỗ Thị Huỳnh L (tên gọi khác: Thảo) phải chịu số tiền là 200.000đñoàng (Hai trăm nghìn đồng).
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - PC.53 CA TP.HCM; - S Tư pháp TP.HCM; - VKSND Q.8, TP.HCM; - Chi cục THADS Q.8; - CQĐT CAQ.8, TP.HCM; - CQTHAHS Q.8, TP.HCM; - NTG CAQ.8, TP.HCM; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Trọng Trúc |