- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lành Thị B - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lành Thị B phạm tội Vận chuyển hàng cấm.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2019/HS-ST Ngày 27-9-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Khiêm
Bà Triệu Thanh Thủy
- Thư ký phiên toà: Ông Nông Đàm Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Chu Văn Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2019/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Lành Thị B, sinh ngày 23/10/1957 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; trình độ văn hóa 0/10; nghề nghiệp: Làm ruộng; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lành Thái N và bà Phương Thị T (đều đã chết); chồng Hoàng Văn B, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Không có án tích, không bị xử phạt hành chính, không bị kỷ luật; bị tạm giữ từ ngày 20/6/2019 đến ngày 26/6/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 20/6/2019, K (không biết lai lịch), ở tỉnh Bắc Giang gọi điện thoại thuê Lành Thị B đi qua mốc 1248/2 sang bên Trung Quốc vận chuyển 01 (một) bao tải dứa đựng pháo nổ về Việt Nam cho K để mang về quê đốt vào dịp tết và tiền công vận chuyển là 200.000 đồng, sau khi thống nhất Lành Thị B đi xe đạp sang Trung Quốc vận chuyển vận chuyển 15,5 kg (mười lăm phẩy năm kilôgam) pháo nổ từ Trung Quốc về Việt Nam khi về đến thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang.
Tại Biên bản xác định trọng lượng, chủng loại ngày 20/6/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã xác định được toàn bộ số pháo thu giữ của Lành Thị B bao gồm: 397 quả pháo hình bóng điện đường kính một đầu 4cm, một đấu 2,5cm, cao 6,5cm, có tổng khối lượng 15,5kg (mười lăm phẩy năm kilôgam).
Ngày 20/6/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn trích lấy mẫu vật gửi giám định gồm: 05 (năm) quả pháo hình bóng điện, đường kính một đầu 4cm, một đầu 2,5cm, cao 6,5cm, có gắn dây màu xanh; tổng khối lượng 0,2kg, được niêm phong trong một hộp bìa cát tông được niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng dấu xác nhận của chính quyền địa phương.
Tại bản Kết luận giám định số: 123/KL-PC09 ngày 21/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn đã kết luận: Các mẫu vật gửi giám định bên trong đều có chứa thuốc pháo, khi đốt hoặc kích thích có gây tiếng nổ.
Bản Cáo trạng số: 53/CT-VKS ngày 05 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Lành Thị B về tội Vận chuyển hàng cấm theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà bị cáo Lành Thị B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, cụ thể: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 20/6/2019, Lành Thị B đang ở nhà thì nhận được điện thoại K (không biết lai lịch), ở tỉnh Bắc Giang gọi điện thoại thuê Lành Thị B đi sang Trung Quốc vận chuyển 01 (một) bao tải dứa đựng pháo nổ về Việt Nam cho K và thỏa thuận tiền công vận chuyển là 200.000 đồng. Sau khi thỏa thuận Lành Thị B một mình đi xe đạp từ nhà theo đường mòn đi qua mốc 1248/2 để sang đất Trung Quốc khoảng 20m thì Lành Thị B nhìn thấy một bao tải dứa màu vàng để ở trong bụi cây cạnh đường đi, Lành Thị B dùng hai tay kiểm tra sờ nắn bên ngoài bao tải dứa, biết đó là các quả pháo trứng (pháo hình dạng bóng điện) do Trung Quốc sản xuất. Lành Thị B buộc bao tải dứa màu vàng bên trong có chứa pháo nổ lên xe đạp rồi vận chuyển về Việt Nam, khi vận chuyển qua mốc 1228/2 thuộc địa phận thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì Lành Thị B bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ người phạm tội quả tang đồng thời đưa Lành Thị B cùng phương tiện, vật chứng (pháo) về Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn để điều tra làm rõ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội Vận chuyển hàng cấm và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lành Thị B phạm tội Vận chuyển hàng cấm. Căn cứ điểm k khoản 2 Điều 191, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 3 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, đề nghị, xử phạt bị cáo Lành Thị B từ 24 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo thu nhập không ổn định, không có tài sản. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đối với 01 (một) điện thoại di dộng mobell dạng phím bấm màu đỏ, số IMEI 510041600091414, bên trong máy lắp 02 thẻ sim viettel, máy cũ đã qua sử dụng, 01 (một) xe chiếc xe đạp màu sơn bạc, có dán nhãn hiệu PALOMA, xe cũ đã qua sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Đối với 01 (một) bao tải dứa màu vàng đã cũ liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo Lành Thị B: Bị cáo đã nhận thấy lỗi lầm của bản thân, bị cáo xin được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo trước phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản xác định chủng loại, trọng lượng, Kết luận giám định số: 123/KL-PC09 ngày 21-6-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn và những chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 20/6/2019, K (Lành Thị B không biết lai lịch), ở tỉnh Bắc Giang gọi điện thoại thuê Lành Thị B đi qua mốc 1248/2 sang bên Trung Quốc vận chuyển 01 (một) bao tải dứa đựng pháo nổ để ở bụi cây cạnh đường vận chuyển về Việt Nam cho K để mang về quê đốt và thống nhất tiền công vận chuyển là 200.000 đồng, sau khi thống nhất xong Lành Thị B đi xe đạp sang Trung Quốc vận chuyển vận chuyển 15,5 kg (mười lăm phẩy năm kilôgam) pháo nổ về Việt Nam, khi về đến địa phận thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn Việt Nam thì bị cơ quan chức năng phát hiện và bắt quả tang. Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lành Thị B phạm tội Vận chuyển hàng cấm theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo biết được pháo nổ là mặt hàng nhà nước cấm sản xuất, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển. Mọi hành vi liên quan đến mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép pháo nổ và thuốc pháo đều bị Nhà nước nghiêm cấm bởi chúng có những tác động tiêu cực đến đời sống xã hội, là nguyên nhân gây ra nhiều vụ cháy nổ, làm thiệt hại lớn đến an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân. Đấu tranh phòng chống mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép pháo nổ và thuốc pháo đang là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội. Hành vi đó cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật thì mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà hôm nay cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đồng thời bị cáo rất ăn năn hối cải về việc làm mà mình đã gây ra. Đây là 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo có xuất thân từ thuần nông (làm ruộng) là người dân tộc Tày; chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu. Bị cáo không đi học lớp nào (0/10) nên trình độ hiểu biết phần nào cũng bị hạn chế, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, tuổi cao, bị cáo tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Nên bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú (có xác nhận của chính quyền địa phương); bị cáo có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong thời gian tại ngoại vừa qua không có hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật; có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Xét thấy không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, chưa cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân nơi đang cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp với mức độ, tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ (Biên bản xác minh ngày 07/7/2019) và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện: Bị cáo làm ruộng, thu nhập không ổn định, không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông tên K thuê bị cáo vận chuyển pháo, do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không làm rõ được để xử lý trong vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị này là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với 15,3 kg pháo nổ còn lại sau khi đã trích mẫu để giám định, ngày 24/6/2019 Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã tiêu hủy, việc tiêu hủy được chụp ảnh, bảo đảm an toàn, đúng trình tự quy định trước khi vụ án được đưa ra xét xử, Hội đồng xét xử thấy phù hợp với các quy định của pháp luật nên không xem xét.
Về vật chứng: Hiện còn đang thu giữ 01 (một) bao tải dứa màu vàng đã cũ, 01 (một) điện thoại di dộng mobell dạng phím bấm màu đỏ, số IMEI 510041600091414, bên trong máy lắp 02 thẻ sim viettel, máy cũ đã qua sử dụng, 01 (một) xe chiếc xe đạp màu sơn bạc, có dán nhãn hiệu PALOMA, xe cũ đã qua sử dụng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xét thấy: Các tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo còn giá trị sử dụng cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước gồm: 01 (một) điện thoại di dộng mobell dạng phím bấm màu đỏ, số IMEI 510041600091414, bên trong máy lắp 02 thẻ sim viettel, máy cũ đã qua sử dụng, 01 (một) xe chiếc xe đạp màu sơn bạc, có dán nhãn hiệu PALOMA, xe cũ đã qua sử dụng. Đối với 01 (một) bao tải dứa màu vàng đã cũ liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo bị kết án nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm k khoản 2 Điều 191, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lành Thị B phạm tội Vận chuyển hàng cấm.
2. Hình phạt: Phạt bị cáo Lành Thị B 02 (hai) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 27/9/2019.
Giao bị cáo Lành Thị B cho Uỷ ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Xử lý vật chứng:
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di dộng mobell dạng phím bấm màu đỏ, số IMEI 510041600091414, bên trong máy lắp 02 thẻ sim viettel, máy cũ đã qua sử dụng, 01 (một) xe chiếc xe đạp màu sơn bạc, có dán nhãn hiệu PALOMA, xe cũ đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao tải dứa màu vàng đã cũ.
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05 tháng 9 năm 2019).
4. Án phí: Bị cáo Lành Thị B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; - Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; - CQTHAHS CA h.L,tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS huyện L, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lƣơng Thị Lan |