vanban.org

Bản án 52/2019/HNGĐST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị T.

Chị Vũ Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn B. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Vũ Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Chị T ly hôn với anh B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2019/HNGĐ-ST.
Ngày: 25/10/2019.
V/v: “Kiện ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO.

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thịnh.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Tuyển

2. Ông Võ Ánh Sửu

-Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo: Ông Trịnh Văn Hai - Kiểm sát viên.

Ngày 25/10/2019 tại phòng xử án – Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo mở phiên tòa xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 325/2019/TLST-HNGĐ ngày 09/9/2019, về việc “Kiện ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/9/2019 giữa:

Nguyên đơn: Chị Vũ Thị T - Sinh năm 1990; Có mặt.

Địa chỉ: Tổ dân phố 6, thị trấn D, huyện L, tỉnh Đăk Lăk.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B - sinh năm 1983; (Mất tích theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích số 08/2019/QĐST-DS ngày 29/7/2019 của TAND huyện Ea H'leo).

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn 02, xã K, huyện L, tỉnh Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Vũ Thị T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn B sống chung với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn D, huyện L vào tháng 4/2013 trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống và anh B bỏ nhà đi từ năm 2014 đến nay không có tin tức gì. Sau nhiều lần tìm kiếm nhưng chị không biết hiện anh B ở đâu, nên chị đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Văn B mất tích. Ngày 29/7/2019, TAND huyện Ea H’Leo ra Quyết định giải quyết việc dân sự số: 08/2019/QĐST-DS tuyên bố anh B mất tích. Nay, chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hai người đã không còn sống chung với nhau đã lâu và hiện anh B đã mất tích. Để ổn định cuộc sống cho bản thân, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.

Về con chung: Chị xác định, quá trình chung sống với nhau, chị và anh B không có con chung.

Về tài sản và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đều tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Vũ Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được kiểm tra xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Pháp luật về tố tụng: Chị Vũ Thị T và anh Nguyễn Văn B có quan hệ vợ chồng. Ngày 29/7/2019, TAND huyện Ea H’Leo ra quyết định giải quyết việc dân sự số: 08/2019/QĐST-DS tuyên bố anh B mất tích, Nay chị T làm đơn xin ly hôn, TAND huyện Ea H’Leo thụ lý giải quyết là phù hợp khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Pháp luật về nội dung: Chị Vũ Thị T và anh Nguyễn Văn B sống chung với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn D, huyện L vào tháng 4/2013 trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống và anh B đã bỏ nhà đi từ năm 2014 đến nay không có tin tức gì. Mặc dù chị T đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có kết quả, hiện không biết anh B ở đâu, nên chị T đã yêu cầu Tòa án tuyên bố anh B mất tích. Ngày 29/7/2019, TAND huyện L ra Quyết định giải quyết việc dân sự số: 08/2019/QĐST-DS tuyên bố anh B mất tích. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, để ổn định cuộc sống cho bản thân, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Sau khi về sống chung với nhau được một thời gian thì đến năm 2014, anh B bỏ đi khỏi nơi cư trú đến nay không về và đã được Tòa án thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng không có kết quả và tin tức gì. Xét thấy, anh B biệt tích hai năm liền trở lên và không có tin tức xác thực về anh B là còn sống hay đã chết, nên ngày 29/7/2019, TAND huyện Ea H’Leo ra Quyết định giải quyết việc dân sự số: 08/2019/QĐST-DS tuyên bố anh B mất tích. Căn cứ Điều 39 và khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình thì cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị T được ly hôn với anh B.

Về con chung: Chị T xác định, quá trình chung sống với nhau, chị và anh B không có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập xem xét.

. Về án phí: Chị T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đinh sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 39; khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 2 Điều 56; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị T.

Chị Vũ Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Vũ Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị Vũ Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện L theo biên lai số AA/2019/0001030 ngày 05/9/2019.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ