vanban.org

Bản án 52/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị Bích T - Nguyễn Văn V"
  • Tòa quyết gì? 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 52/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 29-10-2019
Về việc “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Hưng;

2. Ông Nguyễn Văn Tư.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

H, tỉnh Long An.

Ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ

thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 201/2019/TLST-HNGĐ ngày

15 tháng 8 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét

xử số: 49/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Bích T - Sinh năm 1992 - Địa chỉ: ấp V, xã

MTT, huyện H, tỉnh Long An (Vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V - Sinh năm 1984 - Địa chỉ: ấp V, xã MTT,

huyện H, tỉnh Long An (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 7 năm 2019, các văn bản tiếp theo,

nguyên đơn bà Phan Thị Bích T trình bày và yêu cầu: Bà và ông Nguyễn Văn V

chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MTT ngày 04-11-2013;

Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống,

ông V thường xuyên uống rượu về chửi bới, đánh đập vợ con, đã ly thân từ tháng

02-2019 đến nay.

Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn V.

Về con chung: Bà và ông V có 01 con chung tên Nguyễn Văn K, sinh ngày 21-

4-2014, đang sống chung với ông V; Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con

chung, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 13-9-2019, bà Phan Thị Bích T có đơn xin xét xử vắng mặt;

Bị đơn là ông Nguyễn Văn V vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý

do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Phan Thị Bích T khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn V, Tòa án

nhân dân huyện H tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của

bà T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Trong thời gian Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn là ông Nguyễn Văn V được

niêm yết hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án, nhưng không có ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của ông, không có mặt để tham gia hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của bà T theo quy định tại khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, ông V không được quyền khiếu nại về việc cung cấp chứng cứ, tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa, vì ông không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn không có đơn rút yêu cầu khởi kiện, các đương

sự không thỏa thuận được với nhau việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.

Xét về hôn nhân:

Bà T và ông V chung sống có đăng ký kết hôn ngày 04-11-2013 tại Ủy

ban nhân dân xã MTT, huyện H, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông V là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của bà T: Bà T không đưa ra được tài liệu, chứng cứ

chứng minh cho trình bày và yêu cầu của bà là có căn cứ và hợp pháp. Tuy nhiên, xét bà T và ông V xảy ra mâu thuẫn và ly thân từ tháng 02-2019 (theo trình bày của bà T), hiện nay vẫn còn ly thân, không quan tâm chăm sóc nhau. Xét mâu thuẫn giữa bà T và ông V đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà T yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên chấp nhận. Ông V không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét.

Về nuôi con chung:

Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Văn K, sinh

ngày 21-4-2014, đang sống chung với ông V. Bà T không đưa ra được tài liệu, chứng

cứ chứng minh cho yêu cầu của bà là có căn cứ và hợp pháp. Tuy nhiên, xét con

chung còn nhỏ, để bà T chăm sóc sẽ thuận tiện, đảm bảo sự phát triển bình thường

về tâm sinh lý của con chung, phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân

gia đình năm 2014. Ông V không có ý kiến về nuôi con chung, nên không có căn

cứ xem xét.

Xét con chung đang sống chung với ông V nên ông V có nghĩa vụ giao con

chung cho bà T trực tiếp nuôi kể từ khi án có hiệu lực pháp luật là phù hợp theo

quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Tại bản tự khai ngày 13-9-2019, bà T không yêu cầu ông V cấp dưỡng

nuôi con là tự nguyện, phù hợp quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình năm

2014 nên ghi nhận.

Ông V được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì

lợi ích của con chung, bà T và ông V được quyền yêu cầu thay đổi trình trạng nuôi

con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại các Điều

83, 84, 107 và 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà T trình bày không có, không yêu

cầu Tòa án giải quyết, ông V không có ý kiến, nên không đề cập giải quyết; Nếu xảy

ra tranh chấp, các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định

của pháp luật tố tụng dân sự.

Về án phí, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xét

thấy: Bà T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án

phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân

sự sơ thẩm đã nộp, bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm; Ông V không phải chịu

án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn

nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016

của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản

lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Bà Phan Thị Bích T được ly hôn với ông Nguyễn Văn V.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Bà Phan Thị Bích T được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Văn K,

sinh ngày 21-4-2014, đang sống chung với ông Nguyễn Văn V.

2.2. Ông Nguyễn Văn V có nghĩa vụ giao con chung Nguyễn Văn K cho bà

Phan Thị Bích T trực tiếp nuôi kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.

2.3. Ghi nhận sự tự nguyện của đương sự: Ông Nguyễn Văn V không phải

cấp dưỡng nuôi con chung.

2.4. Ông V được quyền thăm nom, chăm sóc con chung; Khi cần thiết, vì lợi

ích của con chung, bà T và ông V được quyền yêu cầu thay đổi trình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ

án khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

4. Về án phí: Bà Phan Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn

đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo Biên lai thu số 0004661 ngày 15-8-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H), bà T đã nộp đủ án phí.

5. Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc

thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ