vanban.org

Bản án 52/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Dương Thị H được ly hôn anh Nguyễn Thanh X.

Về con chung: Giao hai con chung Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 28/10/2013 và Nguyễn Hữu Ph, sinh ngày 19/11/2015 cho chị Dương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Thanh X. Anh Nguyễn Thanh X có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn sơ thẩm số 52/2019/HNGĐ-ST giữa chị Dương Thị H và anh Nguyễn Thanh X"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Dương Thị H được ly hôn anh Nguyễn Thanh X.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIỄN CHÂU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:52 /2019/HNGĐ-ST
Ngày: 02/10/2019
V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia đình"

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Khánh và ông Cao Đức Giang.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm Xuân Quảng - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: Ông Lê Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn châu, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 128/2019/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2019 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dương Thị H, sinh năm 1989.

Trú tại: xóm 4, xã DY, huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh X, sinh năm 1988.

Địa chỉ: xóm 4, xã DY, huyện D, Nghệ An. vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 24 tháng 6 năm 2019 và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Dương Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Thanh X kết hôn với nhau ngày 25/3/2013. Hôn nhân có tìm hiểu, tự nguyện hợp pháp. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã DY, huyện D. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đầm ấm bình thường nhưng đến năm 2016 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp tính cách, bất đồng trong quan điểm sống nên thiếu sự tôn trọng, yêu thương lẫn nhâu. Bên cạnh đó anh X sống không có trách nhiệm với gia đình, không chung thủy có quan hệ với người phụ nữ khác nên vợ chồng hay bất hòa với nhau. Có lần chị bắt gặp và vợ chồng có trao đổi nhưng anh Xvẫn không nghe và có thái độ thách thức. Mâu thuẫn chị có trao đổi bàn bạc và nhờ hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả mà ngày càng trầm trọng thêm. Từ đó cũng phát sinh mâu thuẫn giữa chị và mẹ chồng nên cuộc sống ngày càng nặng nề, vợ chồng không còn trao đổi, quan tâm chăm sóc nhau. Đến nay đã sống ly thân không còn đi lại. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị đề nghị tòa án nhân dân huyện D giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thanh X.

- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 28/10/2013 và Nguyễn Hữu Ph, sinh ngày 19/11/2015. Hiện hai cháu đang ở cùng chị, anh X sống không có trách nhiệm với gia đình vợ con nên nay ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cả hai con chung và không yêu cầu anh X phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Thanh X đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tiến hành hòa giải nhưng anh Nguyễn Thanh X vắng mặt, vì vậy tòa án đã lập biên bản về việc không thể tiến hành hòa giải được. Tuy nhiên tại đơn trình bày ý kiến gửi về cho tòa án anh đã nhận được các văn bản tố tụng của tòa án, Về việc ly hôn anh có ý kiến như sau. Về thời gian điều kiện kết hôn anh cũng thống nhất như chị H trình bày, anh cho rằng vợ chồng sống mâu thuẫn không hợp tính tình với nhau, mâu thuẫn giữa chị H và mẹ anh nên cuộc sống gia đình nặng nề không có hạnh phúc. Nay chị H xin ly hôn anh tại tòa án anh cũng nhất trí ly hôn cùng chị H. Về con chung: Anh trình bày vợ chồng có hai con chung Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 28/10/2013 và Nguyễn Hữu Ph, sinh ngày 19/11/2015 nay ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung và không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con anh cũng nhất. Về tài sản anh cũng không yêu cầu tòa án giải quyết. Ngoài ra anh còn trình bày do điều kiện ở xa không thể trực tiếp về tham gia phiên tòa nên anh xin vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt anh.

Phát biểu ý kiến tại phiên tòa, Kiểm sát viên đánh giá trong quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên tòa Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng, đầy đủ quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử cũng đã tuân theo đúng quy định của pháp luật trong quá trình xét xử, không có vi phạm về thủ tục.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Cần chấp nhận yêu cầu của chị Dương Thị H, xử cho chị Dương Thị H được ly hôn anh Nguyễn Thanh X. Về con chung: Giao hai con chung vợ chồng Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 28/10/2013 và Nguyễn Hữu Ph, sinh ngày 19/11/2015 cho chị Dương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Thanh X, anh X có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, tài sản không yêu cầu tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến trình bày của nguyên đơn, ý kiến trình bày của kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Thanh X đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, nên tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Anh Nguyễn Thanh X có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm 4, xã DY, huyện D, hiện anh Nguyễn Thanh X không có mặt tại nhà, anh Nguyễn Thanh X không có địa chỉ cụ thể nhưng thỉnh thoảng có đi đi về về, Qua trình bày của ông Nguyễn Xuân B là bố anh X thì ông cũng cho biết anh X không có mặt tại nhà, nhưng anh đã nhận được các thông báo của tòa án thông qua ông. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng của tòa án về việc giải quyết vụ án theo quy định của tố tụng và anh X đã có ý kiến giải quyết gửi về cho tòa án và có đơn xin xét xử vắng mặt do nên áp dụng khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Thanh X.

Về tình trạng hôn nhân: Xét cuộc hôn nhân giữa chị Dương Thị H và anh Nguyễn Thanh X là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại UBND xã DY, huyện D. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn, Nguyên nhân do tính tình không hợp, vợ chồng sống bất hòa mà không hòa giải được với nhau. Anh X sống không có trách nhiệm, quan hệ với người phụ nữ khác nên cuộc sống không có hạnh phúc, bên cạnh đó mâu thuẫn giữa mẹ chồng và con dâu nên cuộc sống gia đình không đầm ấm. Tại phiên tòa hôm nay, chị H vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Thanh X, anh Nguyễn Thanh X vắng mặt nhưng tại bản khai anh cũng thừa nhận mâu thuẫn và cũng nhất trí ly hôn với chị H. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Dương Thị H và anh Nguyễn Thanh X đã thật sự trầm trọng. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là có thật và vợ chồng đã ly thân, cắt đứt mọi tình cảm không còn đi lại, quan tâm đến nhau. Đời sống chung chấm dứt, mục đích hôn nhân không còn. Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị H, xử cho chị Dương Thị H được ly hôn anh Nguyễn Thanh X theo quy định tại khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 28/10/2013 và Nguyễn Hữu Ph, sinh ngày 19/11/2015. Nay ly hôn chị H, anh X đều thống nhất giao cả hai con chung cho chị Dương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Thanh X đến khi chị H có yêu cầu. Anh X có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Về quan hệ tài sản chung và các quyền nghĩa vụ liên quan đến tài sản: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Dương Thị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 điều 56, Điều 57, Điều 81, điều 82 điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Dương Thị H được ly hôn anh Nguyễn Thanh X.

- Về con chung: Giao hai con chung Nguyễn Thị Khánh L, sinh ngày 28/10/2013 và Nguyễn Hữu Ph, sinh ngày 19/11/2015 cho chị Dương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Thanh X. Anh Nguyễn Thanh X có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được ngăn cản quyền này.

- Về quan hệ tài sản chung và các quyền nghĩa vụ liên quan đến tài sản: Không xem xét giải quyết.

- Án phí: Buộc chị Dương Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được khẩu trừ vào khoản tiền dự phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D theo biên lai số 0004718 ngày 18/7/2019. Chị Dương Thị H đã nộp đủ án phí DSST.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn chị Dương Thị H. chị Dương Thị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh X vắng mặt có quyền kháng cáo lên tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ