- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con."
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N, xử cho chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Thanh L được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| HUYỆN C TỈNH TÂY NINH Bản án số: 52/2019/HNGĐ-ST Ngày 14-8-2019 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Thanh Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Văn Lộc.
Ông Hoàng Đình Ngân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiệp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 276/2019/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2019 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1978. Địa chỉ: số 19, hẻm 31, tổ 2, ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh. (Vắng mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh L, sinh năm 1975. Địa chỉ: số 19, hẻm 31, tổ 2, ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 22/4/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thanh L chung sống với nhau vào năm 2000, có đăng ký kết hôn ngày 21/12/2001 tại UBND xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh L thường xuyên ăn nhậu về nhà quậy vợ con, ngày nào anh L cũng nhậu, nhậu sỉn thì hăm dọa đánh đập chị, nhiều lần anh L dí đánh chị nhưng chị chạy nên không đánh được. Từ khi nộp đơn ly hôn anh L hăm dọa nếu chị ly hôn anh L sẽ giết chị rồi cùng chết chung, đòi tạt axit chị. Hằng ngày anh L chạy xe chở mủ cao su, đi làm về không đưa tiền cho chị, tiền ai nấy xài.
Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đich hôn nhân không đạt được, nay chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.
Về con chung: Không có.
Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có.
Bị đơn anh Nguyễn Thanh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do và không gửi cho Tòa án biên bản nêu ý kiến nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh trình bày:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về ý kiến giải quyết vụ án: Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cở sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn, xử cho chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Thanh L được ly hôn. Về con chung: Không có, về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết và nợ chung: không có. Chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Ngày 06/8/2019 nguyên đơn chị Nguyễn Thị N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Thanh L được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt chị N, anh L.
Về quan hệ hôn nhân: Chị N, anh L chung sống với nhau từ năm 2000, có đăng ký kết hôn ngày 21/12/2001 tại UBND xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
. Về mâu thuẫn của vợ chồng: Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị N, anh L nhận thấy khi còn chung sống anh chị thường xuyên mâu thuẫn. Chị N xác định từ năm 2016 vợ chồng chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn gay gắt nhất vào năm 2019. Nguyên nhân: Anh chị bất đồng quan điểm, anh L thường xuyên ăn nhậy say sỉn về quậy, hăm dọa chị nên chị yêu cầu được ly hôn với anh L.
Theo tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện: Anh Nguyễn Thanh L thường uống rượu say sỉn về nhà quậy vợ con.
. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị N, anh L thì anh L đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được. Từ những phân tích trên xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị N là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp ly hôn của chị N, xử cho chị N và anh L được ly hôn là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị N khai không có.
Về án phí: Do chị Nguyễn Thị N là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Anh Nguyễn Thanh L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N, xử cho chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Thanh L được ly hôn.
2. Về con chung: Không có
3. Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra giải quyết.
4. Nợ chung: Chị N khai không nợ ai nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0019755 ngày 26/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị N đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Anh Nguyễn Thanh L không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV. TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - Đương sự; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thanh Bình |