- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Quốc Q và chị Hồ Thị Minh Th được ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2019/HNGĐ-ST Ngày: 06/6/2019 V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Từ.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thúy Minh.
Ông Trần Đình Đường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Đồng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà.
Ngày 06 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 62/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2019 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45a/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quốc Q, sinh năm 1982. Có mặt.
Trú tại: Khối B, phường H, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Bị đơn: Chị Hồ Thị Minh Th, sinh năm 1988. Vắng mặt.
Hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: Khối B, phường H, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Hiện cư trú tại: Jebenstrase 3.10623 Berlin, Cộng hòa liên bang Đức.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/3/2019, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Quốc Q trình bày: Anh và chị Hồ Thị Minh Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An vào ngày 05/3/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với bố mẹ anh tại khối B, phường H, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Vợ chồng chung sống được khoảng 4 năm, đến tháng 11/2017, chị Th đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa liên bang Đức. Sau khi chị Th sang nước ngoài, vợ chồng thường xuyên liên lạc với nhau, chị Th chưa lần nào về nước thăm gia đình. Khoảng cuối năm 2018, đầu năm 2019, vợ chồng ít liên lạc với nhau, do bất đồng quan điểm nên mỗi lần liên lạc vợ chồng lại cãi vã nhau. Hai vợ chồng xa cách nhau đã lâu nên tình cảm phai nhạt dần. Nay anh Q thấy cuộc sống hôn nhân không đạt được, níu kéo nhau cũng không để làm gì nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hồ Thị Minh Th.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Quốc An Kh, sinh ngày 28/01/2014, hiện đang ở với anh Nguyễn Quốc Q. Ly hôn, anh Q có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Kh đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành. Anh Q không yêu cầu chị Hồ Thị Minh Th cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Hồ Thị Minh Th vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nhưng có văn bản trình bày ý kiến: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, chị Hồ Thị Minh Th đã biết được anh Nguyễn Quốc Q khởi kiện yêu ly hôn và nuôi con chung. Chị thừa nhận về điều kiện, thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn, cuộc sống hôn nhân như anh Nguyễn Quốc Q trình bày. Do khoảng cách về địa lý, thời gian sống xa nhau, giữa hai vợ chồng đã xẩy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, hay cãi vã nhau. Vợ chồng sống mỗi người một nơi, tình cảm phai nhạt, không tìm thấy tiếng nói chung. Nay, anh Q làm đơn xin ly hôn, chị đồng ý để hai bên bắt đầu cuộc sống mới. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung như anh Q trình bày, hiện cháu đang ở với anh Q. Ly hôn, chị đồng ý giao con chung cho anh Q nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị thực hiện theo yêu cầu của anh Q. Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì điều kiện hiện nay chị Th đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài, không thể về Việt Nam để trực tiếp tham gia giải quyết việc ly hôn với anh Q được nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị. Mọi giấy tờ, văn bản tố tụng của Tòa án, chị Th đề nghị gửi qua mẹ chị là bà Nguyễn Thị M nhận và thông tin cho chị.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Hồ Thị Minh Th hiện đang sinh sống và làm việc tại Cộng hòa liên bang Đức, Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án cho chị Th thông qua gia đình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng do không có điều kiện về nước nên chị Th đã gửi văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết ly hôn giữa chị với anh Nguyễn Quốc Q và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Mặt khác, mẹ đẻ của chị Th là bà Nguyễn Thị M có văn bản xác nhận những lời trình bày của chị Th trong bản tự khai là hoàn toàn đúng sự thật. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, điểm a khoản 5 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn chị Hồ Thị Minh Th.
. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Quốc Q và chị Hồ Thị Minh Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với bố mẹ đẻ anh Q tại khối B, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Đến tháng 11/2017, chị Th đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa liên bang Đức. Thời gian đầu vợ chồng thường xuyên liên lạc với nhau. Đến khoảng cuối năm 2018, đầu năm 2019, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nên ít liên lạc với nhau, mỗi lần liên lạc là cãi vã nhau. Quá trình giải quyết vụ án anh Q và chị Th đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Th không về Việt Nam nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa chị Th vắng mặt, anh Q vẫn giữ nguyên ý kiến xin được ly hôn. Xét thấy, cuộc hôn nhân giữa anh Q và chị Th đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho anh Nguyễn Quốc Q được ly hôn chị Hồ Thị Minh Th.
. Về con chung: Anh Nguyễn Quốc Q và chị Hồ Thị Minh Th có 01 con chung là Nguyễn Quốc An Kh, sinh ngày 28/01/2014. Hiện cháu Kh đang ở với anh Q. Chị Th hiện đang ở nước ngoài chưa có điều kiện để chăm sóc con chung. Anh Q và chị Th thỏa thuận giao con chung cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng. Xét nguyện vọng cũng như thỏa thuận của anh Q và chị Th là chính đáng, tự nguyện, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, cần giao con chung Nguyễn Quốc An Kh cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Q không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Chị Th có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Quốc Q và chị Hồ Thị Minh Th không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Anh Nguyễn Quốc Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 228, Điều 147 và điểm a khoản 5 Điều 477 và Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Quốc Q và chị Hồ Thị Minh Th được ly hôn.
[2]. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Quốc An Kh, sinh ngày 28/01/2014 cho anh Nguyễn Quốc Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Q không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Chị Th có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
[3]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Quốc Q và chị Hồ Thị Minh Th không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về án phí: Anh Nguyễn Quốc Q phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí anh Q đã nộp tại Cục thi hành án tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0003898 ngày 22/4/2019.
[5]. Anh Nguyễn Quốc Q có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Hồ Thị Minh Th có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Cục THADS tỉnh Nghệ An; - UBND phường H, TP Vinh; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Từ |