vanban.org

Bản án 52/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Doãn Thị H được ly hôn anh Hoàng Văn D.

[2]. Về quan hệ con chung: Giao con Hoàng Trang N, sinh ngày 25/11/2013 cho chị Doãn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung. Chị H và anh D có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi cần thiế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Chị Doãn Thị H xin ly hôn anh Hoàng Văn D"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Doãn Thị H được ly hôn anh Hoàng Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨ THƢ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 06-11-2019
V/v tranh chấp ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƢ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Nghĩa

2. Ông Phạm Đức Hiển.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2019/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2019 về việc tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Doãn Thị H, sinh năm 1996.

Nơi cư trú: Thôn B, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình. Có mặt

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn D, sinh năm 1988.

Nơi cư trú cuối cùng trước khi mất tích: Thôn B, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình. vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/7/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Doãn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn D tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình vào ngày 05/12/2013. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại thôn B, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình. Anh chị chung sống đến tháng 11/2014 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng tính tình không hợp, hay cãi chửi nhau, chị H cũng thường xuyên va chạm với mẹ đẻ anh D. Từ đó bố mẹ hai bên cũng mâu thuẫn, cãi chửi, đánh nhau. Vợ chồng anh chị mâu thuẫn căng thẳng vào tháng 12/2014, anh D cắt tay tự tử nhưng được mọi người đưa đi cấp cứu kịp thời. Do vậy, cuộc sống hôn nhân của anh chị ngày càng trầm trọng, không thể khắc phục được. Chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, còn anh D cũng bỏ nhà đi từ đó đến nay không thấy trở về địa phương. Chị đã có nhiều biện pháp tìm kiếm anh D nhưng không có kết quả. Tháng 6/2019 Tòa án đã ra Quyết định tuyên bố anh D mất tích, từ đó đến nay anh D vẫn chưa trở về cũng không có tin tức gì. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D.

Về con chung: Chị và anh D có một con chung là Hoàng Trang N, sinh ngày 25/11/2013. Hiện nay, con N đang ở với chị. Ly hôn, nguyện vọng của chị muốn được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung. Hiên nay chị có việc làm ổn định, có bố mẹ đẻ phụ giúp trong việc nuôi con nên chị đủ điều kiện nuôi con

Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh D không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh D đã bị Tòa án tuyên bố mất tích theo Quyết định số 01/2019/QĐST-DS ngày 27/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Từ khi thụ lý vụ án đến ngày xét xử, Tòa án đã thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng cho anh D tại trụ sở thôn B, xã S, huyện V và trụ sở UBND xã S, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư nhưng hiện nay anh D vẫn chưa trở về địa phương, chưa có tin tức gì.

* Bà Nguyễn Thị Tuất là bà nội của anh Hoàng Văn D trình bày: Về thời gian, điều kiện kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh D như chị H trình bày là đúng. Đến năm 2014 anh chị mâu thuẫn rất căng thẳng, anh D nhiều lần cắt tay tự tử nhưng không giải quyết được mâu thuẫn, sau đó dẫn đến việc đánh nhau giữa hai gia đình thông gia. Cùng năm đó, anh D đã bỏ đi khỏi địa phương, từ đó đến nay đã 05 năm rồi nhưng vẫn không thấy trở về cũng không có tin tức gì. Từ sau khi anh D bỏ đi, chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống, hai bên gia đình cũng không có bất kỳ qua lại gì nữa. Tháng 6/2019, Tòa án có quyết định tuyên bố anh D mất tích. Sau khi bị tuyên bố mất tích đến nay, anh D vẫn chưa trở về địa phương cũng vẫn không có tin tức gì. Nay chị H có đơn xin ly hôn anh D, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn vì hôn nhân của anh chị không có khả năng đoàn tụ. Về con chung, anh chị có một con chung. Ly hôn đề nghị Tòa án giao cho con N cho chị H nuôi dưỡng. Về tài sản, anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung. Hiện nay bố mẹ đẻ và chị gái ruột của anh D đang đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về địa phương.

* Quá trình xác minh, đại diện Ủy ban nhân dân xã S và cơ sở thôn B, xã S trình bày: Về thời gian, điều kiện kết hôn, mâu thuân vợ chồng giữa chị H và anh D như chị H, bà Tuất trình bày. Từ năm 2014 đến nay, anh D vẫn chưa trở về địa phương cũng vẫn không có tin tức gì. Nay chị H có đơn xin ly hôn anh D, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung, anh chị có một con chung, ly hôn đề nghị Tòa án giao cho con cho chị H nuôi dưỡng. Về tài sản, anh chị không có tài sản chung là bất động sản tại địa phương, không có vay nợ tài sản của các tổ chức tín dụng, đoàn thể tại địa phương.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị H được ly hôn anh D. Về quan hệ con chung: đề nghị Tòa án giao con N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Về quan hệ tài sản: Tách ra giải quyết sau khi có yêu cầu. Án phí: Chị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và Tòa án có thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn, khởi kiện và có yêu cầu xin ly hôn, xin nuôi con chung do đó xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn anh D có nơi cư trú cuối cùng trước khi mất tích tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình nên Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án niêm yết hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh D được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng và hai bên gia đình thông gia thường xuyên đánh cãi chửi nhau. Đến năm 2014 thì mâu thuẫn của anh chị rất căng thẳng, anh D đã cắt tay tự tử nhưng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn. Chị H đã về nhà bố mẹ đẻ chị sống năm 2014 đến nay. Cùng năm 2014, anh D đã bỏ đi khỏi địa phương. Tháng 6/2019, Tòa án có quyết định tuyên bố anh D mất tích. Sau khi bị tuyên bố mất tích đến nay, anh D cũng chưa trở về địa phương và không có tin tức gì. Xét thấy hôn nhân giữa chị H và anh D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh D đã bị tuyên bố mất tích vì vậy cần căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị H được ly hôn anh D.

Về quan hệ con chung: Chị H và anh D có một con chung là Hoàng Trang N, sinh ngày 25/11/2013. Xét thấy anh D hiện nay đã bị tuyên bố mất tích, chị H có đủ điều kiện nuôi con nên giao con N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung.

Về quan hệ tài sản và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh D không có lời trình bày về vấn đề tài sản, vì vậy chưa đủ căn cứ để xác định tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản của chị H và anh D. Do đó cần tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

Về án phí sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, 227, 228, 235, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào Điều 6, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Doãn Thị H được ly hôn anh Hoàng Văn D.

[2]. Về quan hệ con chung: Giao con Hoàng Trang N, sinh ngày 25/11/2013 cho chị Doãn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị H và anh D có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.

[3]. Về quan hệ tài sản: Tách ra giải quyết sau khi có yêu cầu.

[4]. Về án phí: Chị Doãn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0003502 ngày 26 tháng 7 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; chị H đã nộp đủ án ly hôn sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Chị Doãn Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Hoàng Văn D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ