- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính về lĩnh vực quản lý đất đai"
- Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của người khởi kiện bà Nguyễn Thị K. Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số 71/2018/HC-ST ngày 16-11-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật tố tụng hành chính; Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 3 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2019/HC-PT Ngày 07-5-2019 “V/v: Khiếu kiện quyết định hành chính về lĩnh vực quản lý đất đai”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Trần Minh Tuấn
Các Thẩm phán:
Ông Võ Ngọc Thông
Ông Vũ Thanh Liêm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Liên - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Ông Lê Phước Thạnh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 07 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số 52/2019/TLPT-HC ngày 15 tháng 01 năm 2019 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do bản án hành chính sơ thẩm số 71/2018/HC-ST ngày 16/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 270/2019/QĐ-PT ngày 04 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1952;
Địa chỉ: thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt và có đơn xin vắng.
2. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thế H - Phó Chủ tịch UBND thành phố H (Văn bản ủy quyền số 2839/UBND ngày 21-8-2018).
Địa chỉ: thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn X, sinh năm 1957; địa chỉ: thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
3. Người kháng cáo: Người khởi kiện - bà Nguyễn Thị K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các văn bản có trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa người khởi kiện bà Nguyễn Thị K trình bày:
Thửa đất 2.495,3 m2 tại khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam có nguồn gốc của gia đình bà Nguyễn Thị K. Theo hồ sơ địa chính Vn2000 thửa đất diện tích 2.152,2 m2, theo hồ sơ kỹ thuật lập ngày 14/4/2008 thì diện tích sử dụng là 1.623,8 m2, người quản lý sử dụng đất là Nguyễn Thị K. Bà K đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế của Nhà nước đối với thửa đất trên.
Tuy nhiên, khi Nhà nước thu hồi đất làm dự án khu dân cư L số 2 ngày 06/11/2008 thì Bà K không nhận được bất cứ một quyết định thu hồi đất, quyết định đền bù nào. Do quá bức xúc nên năm 2017 Bà K có xây một bệ thờ là 3 bức tường chữ U trên thửa đất trên. Ngày 05/9/2017 UBND phường C đã lập biên bản xử lý vi phạm hành chính đối với Bà K nhưng Bà K không có mặt và cũng không nhận được biên bản. Sau đó, Bà K có nhận được các Quyết định 75/QĐ-XPVPHC ngày 12/9/2017 về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và Quyết định số 53/QĐ-CCXP ngày 17-5-2018 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch UBND thành phố H, tỉnh Quảng Nam.
Bà K cho rằng đất của bà có nguồn gốc và được sử dụng hợp pháp nhưng không được thu hồi đền bù, nên hành vi xử phạt hành chính của Chủ tịch UBND thành phố H là không đúng, không có cơ sở. Yêu cầu Tòa án hủy các Quyết định 75/QĐ-XPVPHC ngày 12-9-2017 của Chủ tịch UBND thành phố H, tỉnh Quảng Nam về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và Quyết định số 53/QĐ-CCXP ngày 17-5-2018 của Chủ tịch UBND thành phố H, tỉnh Quảng Nam về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Tại các văn bản có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Chủ tịch UBND thành phố H trình bày:
Thực hiện theo Quyết định 1686/QĐ-UBND ngày 01-6-2007 và Quyết định 1270/QĐ-UBND ngày 20-4-2009 của UBND tỉnh Quảng Nam về việc thu hồi đất, giao đất cho UBND thành phố H để xây dựng kết cấu hạ tầng khu tái định cư L tại C. Năm 2009, UBND thành phố H đã ban hành các Quyết định thu hồi đất, giao đất toàn bộ diện tích tại thửa A7.1 khu L, phường C để xây dựng khu tái định cư. Cũng trong năm 2017, các hộ dân đã thực hiện bàn giao mặt bằng và nhận đền bù xong. Ngày 05-9-2017 UBND phường C đã phát hiện bà Nguyễn Thị K có hành vi xây dựng công trình trái phép trên thửa A7.1 khu L, phường C nên UBND phường C đã lập biên bản xử lý vi phạm hành chính đối với Bà K. Sau khi UBND phường C có Tờ trình đề nghị xử lý trường hợp chiếm đất đối với bà Nguyễn Thị K thì ngày 12-9-2017 Chủ tịch UBND thành phố H đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 75/QĐ-XPVPHC trong lĩnh vực quản lý đất đai đối với Bà K theo Điều 57, 58 Luật xử lý vi phạm hành chính đúng thủ tục và đúng thẩm quyền, quyết định này đã được gửi cho Bà K qua đường bưu điện và niêm yết công khai tại UBND phường C. Do Bà K không chấp hành Quyết định số 75/QĐ-XPVPHC nên căn cứ Điều 86, 87 Luật xử phạt vi phạm hành chính UBND thành phố H đã ban hành Quyết định số 53/QĐ-CCXP ngày 17-5-2018 của Chủ tịch UBND thành phố H về việc cưỡng chế buộc thực hiện khắc phục hậu quả là đảm bảo theo quy định của pháp luật. Các quyết định này hoàn toàn đảm bảo theo quy định của pháp luật. Do đó, việc bà Nguyễn Thị K khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 75/QĐ-XPVPHC ngày 12-9-2017 của Chủ tịch UBND thành phố H về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và Quyết định số 53/QĐ-CCXP ngày 17-5-2018 của Chủ tịch UBND thành phố H về việc cưỡng chế buộc thực hiện khắc phục hậu quả là không có cơ sở.
Tại bản án hành chính sơ thẩm số 71/2018/HC-ST ngày 16-11-2018, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã quyết định:
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 3; khoản 4 Điều 32; khoản 1 Điều 115; điểm a khoản 2 Điều 116; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính. Điều 58, Điều 66, Điều 67, Điều 68, Điều 86, Điều 87 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 33 Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 12-11-2013; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị K về hủy Quyết định 75/QĐ-XPVPHC ngày 12-9-2017 của Chủ tịch UBND thành phố H, tỉnh Quảng Nam về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và Quyết định số 53/QĐ-CCXP ngày 17-5-2018 của Chủ tịch UBND thành phố H, tỉnh Quảng Nam về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 26-11-2018, người khởi kiện bà Nguyễn Thị K kháng cáo toàn bộ nội dung của bản án hành chính sơ thẩm số 71/2018/HC-ST ngày 16-11-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, người khởi kiện bà Nguyễn Thị K, người bị kiện Chủ tịch UBND thành phố H đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 225 Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện Chủ tịch UBND thành phố H cho rằng bà Nguyễn Thị K đã có hành vi vi phạm hành chính khi xây dựng bệ thờ trên diện tích đất do Nhà nước quản lý. Do vậy, Chủ tịch UBND thành phố H ban hành các quyết định hành chính xử lý vi phạm của Bà K là đúng quy định pháp luật, do đó đề nghị HĐXX bác kháng cáo của Bà K.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cho rằng hành vi xây dựng trái phép của bà Nguyễn Thị K đã được người có thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính đúng quy định pháp luật, án sơ thẩm xử bác yêu cầu khởi kiện của Bà K là có căn cứ, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của Bà K.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính: Bà Nguyễn Thị K thừa nhận có hành vi xây dựng một bức tường chữ U dài 3,41 m, cao 0,9 m trên thửa đất A7.1 phân khu 1, khu L, phường C, thành phố H vào năm 2017, nên ngày 05-9-2017 UBND phường C đã lập biên bản xử lý vi phạm hành chính đối với bà Nguyễn Thị K với hành vi vi phạm “chiếm đất ở đô thị do Nhà nước quản lý”. Ngày 12-9-2017 Chủ tịch UBND thành phố H ban hành Quyết định số 75/QĐ-XPVPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai với nội dung phạt tiền 7.500.000 đồng và biện pháp khắc phục hậu quả là buộc Bà K khôi phục lại tình trạng ban đầu, trả lại đất lấn chiếm. Do không tự nguyện chấp hành quyết định nêu trên, ngày 17-5-2018, Chủ tịch UBND thành phố H đã ban hành Quyết định cưỡng chế số 53/QĐ-CCXP về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả để đảm bảo thi hành Quyết định số 75/QĐ-XPVPHC ngày 12-9-2017 đối với Bà K. Ngày 14-6-2018 bà Nguyễn Thị K nộp đơn khởi kiện yêu cầu hủy các quyết định trên tại Tòa án. Xét các Quyết định số 75/QĐ-XPVPHC ngày 12-9-2017 và Quyết định số 53/QĐ-CCXP Ngày 17-5-2018 của Chủ tịch UBND thành phố H là quyết định về xử lý người có vi phạm pháp luật trong lãnh vực quản lý đất đai, là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính, do vậy căn cứ Điều 30, Điều 32, Điều 116 Luật tố tụng hành chính năm 2015, thời hiệu khởi kiện vẫn còn và Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định pháp luật.
Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị K yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, tuyên hủy các quyết định hành chính nói trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc Bà K xây dựng một bức tường chữ U dài 3,41 m, cao 0,9 m trên thửa đất A7.1 phân khu 1, khu L, phường C, thành phố H không được các cơ quan có thẩm quyền cho phép, cũng không xuất trình được tài liệu chứng cứ gì chứng minh có quyền sở hữu trên diện tích đất lấn chiếm. Lời trình bày của bà Nguyễn Thị K cho rằng bà tiến hành xây dựng trên diện tích đất có nguồn gốc của gia đình bà là hợp pháp, tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy để thực hiện Quyết định 1686/QĐ-UBND ngày 01-6-2007 và Quyết định 1270/QĐ-UBND ngày 20-4-2009 của UBND tỉnh Quảng Nam về việc thu hồi đất, giao đất cho UBND thành phố H để xây dựng kết cấu hạ tầng khu tái định cư L tại C. Năm 2009 UBND thành phố H đã ban hành các Quyết định thu hồi đất, giao đất toàn bộ diện tích tại thửa A7.1 khu L, phường C để xây dựng khu tái định cư. Thửa đất mà bà Nguyễn Thị K trình bày thực tế bà không sử dụng, không có kê khai, đăng ký theo Chỉ thị 299/TTg và Nghị định 64/CP, nên UBND thành phố H thu hồi, đền bù theo đúng quy định của pháp luật đối với các hộ sử dụng khác tại các Quyết định thu hồi đất số 1938/QĐ-UBND ngày 24-7-2009 đối với hộ ông Phạm Văn H; Quyết định 425/QĐ-UBND ngày 20-8-2007; Quyết định 1391 ngày 02-6-2009 đối với hộ ông Trần L; Quyết định 465/QĐ-UBND ngày 30-8-2007 đối với hộ ông Nguyễn Viết C; Quyết định 431/QĐ-UBND ngày 30-8-2007 đối với hộ ông Trần T; Quyết định thu hồi đất 456/QĐ-UBND ngày 30-8-2007 đối với hộ bà Nguyễn Thị L; Quyết định 1384/QĐ-UBND ngày 02-6-2009 đối với hộ bà Võ Thị P. Như vậy tại thời điểm Bà K tiến hành xây dựng thì Thửa đất A7.1, khu tái định cư L số 2, phường C là đất ở đô thị do Nhà nước quản lý. Do vậy Biên bản vi phạm hành chính ngày 05-9-2017 xác định bà Nguyễn Thị K “chiếm đất ở đô thị do Nhà nước quản lý” là phù hợp Điều 14 Luật đất đai năm 2003, nên Chủ tịch UBND thành phố H ban hành Quyết định số 75/QĐ-XPVPHC ngày 12-9-2017 về việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với bà Nguyễn Thị K, do Bà K không tự nguyện chấp hành nên Chủ tịch UBND thành phố H ban hành Quyết định số 53/QĐ-CCXP ngày 17-5-2018 về việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành chính đối với bà Nguyễn Thị K là đúng trình tự, thủ tục, đúng thời hạn ban hành quyết định và thẩm quyền ban hành quyết định theo Điều 58, 66, 67, 68, 86, 87 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Với phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo của người khởi kiện bà Nguyễn Thị K là không có căn cứ chấp nhận nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm. Người kháng cáo bà Nguyễn Thị K được miễn án phí hành chính phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 3; khoản 4 Điều 32; khoản 1 Điều 115; điểm a khoản 2 Điều 116; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính. Điều 58, Điều 66, Điều 67, Điều 68, Điều 86, Điều 87 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 33 Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 12-11-2013; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Bác kháng cáo của người khởi kiện bà Nguyễn Thị K. Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số 71/2018/HC-ST ngày 16-11-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam. Tuyên xử :
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị K về hủy Quyết định 75/QĐ-XPVPHC ngày 12-9-2017 của Chủ tịch UBND thành phố H, tỉnh Quảng Nam về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và Quyết định số 53/QĐ-CCXP ngày 17-5-2018 của Chủ tịch UBND thành phố H, tỉnh Quảng Nam về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
2. Người khởi kiện - bà Nguyễn Thị K không chịu án phí hành chính phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TANDTC; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Quảng Nam; - VKSND tỉnh Quảng Nam; - Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Minh Tuấn |