vanban.org

Bản án 52/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Huế, TP. Huế Tuyên án 27/11/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T (VPBank).

Buộc bà Trần Thị H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T (VPBank) số tiền gồm 142.398.776 đồng, trong đó nợ gốc: 66.769.304 đồng; nợ lãi trong hạn: 1.968.248 đồng; lãi quá hạn: 65.135.126 đồng, lãi chậm trả: 8.562.088 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Dân sự"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T (VPBank).
  • Căn cứ chính? Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HUẾ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 52/2019/DS-ST
Ngày: 27/11/2019
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Bích Thuỷ và bà Đoàn Thị Thanh Nhàn.

-Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền Trang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trường Thi, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế (số 60 Nguyễn Huệ - Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 149/2019/TLST-DS ngày 18/7/2019, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2019/QĐST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2019, Quyết định hoãn phiên toà số 236/2019/ QĐST-DS ngày 19 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T (VPBank). Địa chỉ: 89 đường L, phường L, quận Đ, Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D: Chủ tịch Hội đồng quản trị của Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T, vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền:

- Ông Phạm Tuấn A – Phó giám đốc Trung tâm pháp luật Ngân hàng, SME và cá nhân. (Văn bản ủy quyền số: 11/2018/UQ-HĐQT ngày 02/3/2018 của Chủ tịch Hội đồng quản trị VPBank), vắng mặt.

- Ông Nguyễn Xuân P: Cán bộ xử lý nợ VP Bank AMC. Địa chỉ: 212 đường N, phường V, thành phố Huế. (Giấy uỷ quyền số 3970/2018/UQ-VPB ngày 20/12/2018), có mặt.

- Ông Mai Quốc V: Cán bộ xử lý nợ VP Bank AMC. (Giấy uỷ quyền số 3970/2018/UQ-VPB ngày 20/12/2018), vắng mặt.

- Ông Nguyễn Văn L: Cán bộ xử lý nợ VP Bank AMC. (Giấy uỷ quyền số 3970/2018/UQ-VPB ngày 20/12/2018), vắng mặt.

Bị đơn: Bà Trần Thị H. Địa chỉ: Số 14 đường T, phường P, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 31/01/2019, đơn khởi kiện bổ sung ngày 08/7/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đều trình bày:

Căn cứ theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số CN/VN00101051201708/01(sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng số LD1721700098) ngày 01/8/2017 được xác lập giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T và bà Trần Thị H thì vào ngày 01/8/2017, Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T (sau đây viết tắt là VP Bank) đã cho bà Trần Thị H vay số tiền gồm 70.000.000 đồng; Thời hạn vay: 36 tháng tính từ ngày giải ngân đầu tiên là ngày 05/8/2017 ; Lãi suất: 38%/năm ; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Mức điều chỉnh lãi suất 03 tháng/01 lần, ngày điều chỉnh đầu tiên 01/01/2018, mức điều chỉnh lãi suất bằng lãi suất bán vốn của bên ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 30% năm, phạt chậm trả 10%. Mục đích vay: tiêu dùng cá nhân; Biện pháp bảo đảm: tín chấp; Phương thức thanh toán: Bà Trần Thị H có trách nhiệm trả nợ gốc và lãi 1 tháng/ 1lần vào ngày 05 hàng tháng, kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 05/9/2017. Qúa trình thực hiện hợp đồng, bà H đã thanh toán cho VP Bank với tổng số tiền 10.113.830 đồng (trong đó nợ gốc 3.230.696 đồng, nợ lãi 6.883.696 đồng). Từ sau ngày 23/11/2017 cho đến nay, bà Trần Thị H dừng thanh toán. Mặc dù thời hạn hợp đồng chưa hết nhưng do bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên VP Bank khởi kiện yêu cầu bà H phải thanh toán nợ cho Ngân hàng.

Do bà Trần Thị H vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên số nợ vay còn thiếu đã bị chuyển nợ quá hạn với mức lãi suất nợ quá hạn từ ngày 05/12/2017. Tính đến ngày 27/11/2019, bà H còn nợ của VP Bank tổng số tiền gồm 142.398.776 đồng, trong đó nợ gốc: 66.769.304 đồng; nợ lãi trong hạn: 1.968.248 đồng; lãi quá hạn: 65.135.126 đồng, lãi chậm trả: 8.562.088 đồng.

Nay VP Bank khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị H phải thanh toán cho VP Bank toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, lãi quá hạn tổng cộng là: 142.398.776 đồng và yêu cầu bà H tiếp tục trả lãi, lãi phát sinh trên số tiền còn lại, theo mức lãi suất hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 28/11/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị H không đến Toà án để làm việc, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Tại phiên toà, bà H vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Về viê ̣c kiểm sát viê ̣c tuân theo pháp luâ ̣t , đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Huế có ý kiến:

[1] Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán , Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

- Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Quyền và nghĩa vụ của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã không thực hiện đúng các quy định tại khoản 16 Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của VPBank.

- Buộc bà Trần Thị H phải có nghĩa vụ trả số tiền 142.398.776 đồng, trong đó nợ gốc: 66.769.304 đồng; nợ lãi trong hạn: 1.968.248 đồng; lãi quá hạn: 65.135.126 đồng cho VP Bank. Đối với khoản nợ lãi chậm trả thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

- Buộc bà Trần Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: VP Bank khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị H, có địa chỉ tại: 14 đường T, phường P, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế phải trả nợ gốc, lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Do đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng, nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và Điểm a Khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Bà Trần Thị H đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do tại phiên toà. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Hiền.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà Hiền không đến làm việc, không cung cấp tài liệu, chứng cứ là tự chối bỏ thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định. Do đó, căn cứ vào khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được.

Về nội dung tranh chấp:

Căn cứ giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0100233583 đăng ký thay đổi lần thứ 41, ngày 27/11/2018 do Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố Hà Nội cấp thì VPBank có tư cách pháp nhân, thực hiện hoạt động tín dụng theo khoản 1 Điều 6 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Đối với Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử số CN/VN00101051201708/01 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T và bà Trần Thị H là hợp đồng tín dụng bảo đảm bằng tín chấp theo quy định tại Điều 344 và Điều 345 Bộ luật dân sự, với các điều khoản quy định đều không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Do đó, hợp đồng trên là hợp pháp và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên phù hợp với quy định tại các Điều 385, Điều 398 và Điều 401 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Về yêu cầu đòi nợ của VPBank, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình thực hiện hợp đồng, VPBank đã thực hiện đầy đủ phần nghĩa vụ của mình, đã chuyển khoản đủ cho bà Trần Thị H số tiền vay 70.000.000đồng theo thỏa thuận. Sau khi nhận đủ tiền, phía bà Trần Thị H đã thanh toán cho VPBank với tổng số tiền 10.113.830 đồng (trong đó nợ gốc 3.230.696 đồng, nợ lãi 6.883.134 đồng). Từ sau ngày 23/11/2017 cho đến nay, bà Trần Thị H không tiếp tục thanh toán là không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo quy định trong nội dung của hợp đồng. Như vậy, bà Trần Thị H đã vi phạm hợp đồng. Tính đến ngày 27/11/2019, bà Trần Thị H còn nợ và có nghĩa vụ phải trả cho VPBank số tiền nợ gốc: 66.769.304 đồng; nợ lãi trong hạn: 1.968.248 đồng; lãi quá hạn: 65.135.126 đồng, lãi chậm trả: 8.562.088 đồng. Tổng cộng là 142.398.776 đồng. Vì vậy, VP Bank khởi kiện buộc bà Trần Thị H phải trả nợ gốc và lãi với số tiền trên là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 280, Điều 282 và Điều 466 Bộ luật dân sự nên có căn cứ chấp nhận.

Về yêu cầu của VP Bank buộc bà H tiếp tục trả lãi, lãi phát sinh trên số tiền còn lại, theo mức lãi suất hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết, kể từ ngày 28/11/2019 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ, là có căn cứ theo thỏa thuận của các bên tại hợp đồng và các quy định của pháp luật, nên cần chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Trần Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm gồm 7.119.938 đồng (bảy triệu một trăm mười chín ngàn chín trăm ba mươi tám đồng).

- VPBank không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả tiền tạm ứng án phí gồm 2.382.000 đồng (Hai triệu ba trăm tám mươi hai nghìn đồng) cho VPBank theo biên lai thu tiền số 008236 ngày 18/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; Điều 186; điểm b khoản 2 Điều 227 ; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào các Điều 280; Điều 282; Điều 344; Điều 345; Điều 385; Điều 398; Điều 401; Điều 466; Khoản 1 Điều 468 và Khoản 2 Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T (VPBank).

Buộc bà Trần Thị H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T (VPBank) số tiền gồm 142.398.776 đồng, trong đó nợ gốc: 66.769.304 đồng; nợ lãi trong hạn: 1.968.248 đồng; lãi quá hạn: 65.135.126 đồng, lãi chậm trả: 8.562.088 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Trần Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T thì lãi suất mà bà H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T theo quyết định của Tòa án cũng sẽ điều chỉnh cho phù hợp với điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T.

[2] Về án phí:

- Bà Trần Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm gồm 7.119.938 đồng (bảy triệu một trăm mười chín ngàn chín trăm ba mươi tám đồng).

- Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T (VPBank) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam T (VPBank) số tiền tạm ứng án phí đã nộp gồm 2.382.000 đồng (Hai triệu ba trăm tám mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 008236 ngày 18/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2004; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ