- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp dân sự"
- Tòa quyết gì? Kh ng chấp nhận háng cáo của ị đơn Vũ Thị H, gi nguyên ản án sơ th m.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2019/DS-PT Ngày: 17-9-2019 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay TS |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Bà Vũ Thị Mai Hương Các thẩm phán:
Bà Vũ Thị Thu
Bà Mai Thị Minh Hồng
- Thư ký phiên toà:
Bà Đặng Thị Thu Hường
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:
Ông Trần Trọng Dần - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 9 năm 2019, t i tr s , Toà án nhân dân t nh Nam Định t
ph c th m c ng hai v án dân sự th lý số 24/2019/TLPT-DS ngày 03 tháng 5 năm 2019 về việc “Kiện đòi tài sản”. Do ản án dân sự sơ th m số 10/2019/TCDS-ST ngày 12/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu - t nh Nam Định ị háng cáo. Theo uy t định đưa v án ra t số 114/2019/ Đ - T ngày 05/9/2019 gi a các đương sự: + Nguyên đơn: Bà Mai Thị L, sinh năm 1958 Nơi cư tr : Xóm 7 - xã H - huyện H - t nh Nam Định
- Người đại diện theo ủy quyền của Bà Mai Thị L: Ông Trình Kiên C, sinh năm 1991. Nơi cư tr : Số 132 đường N - thị trấn V - huyện T - thành phố Hà Nội + Bị đơn: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1986 và ng Nguyễn Văn C, sinh năm 1980 Đều tr t i: Xóm 6 - xã H - huyện H - t nh Nam Định
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bà Vũ Thị H: Luật sư Trần Đức T - Công ty Luật TNHH Hùng Thắng thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội + Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1961. Nơi cư tr : Xóm 7 - xã H - huyện H - t nh Nam Định + Người kháng cáo: Bị đơn Bà Vũ Thị H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
T i đơn h i iện và quá trình tố t ng t i Tòa án, nguyên đơn là Bà Mai Thị L trình bày: Do hai ên gia đình có quen i t nhau, ngày 10/3/2016 Bà Vũ Thị H có đ n nhà à hỏi vay số tiền 100.000.000 đồng tiền mặt về để s a ch a nhà c a và mua d ng c đi iển thời h n vay hai tháng. Vì tình cảm và tin tư ng nên vợ chồng à có đồng ý có vợ chồng bà H vay 100.000.000 đồng. Khi vay à là người àn giao tiền cho bà H nhận và bà H là người vi t giấy iên nhận vay nợ ghi rõ số tiền vay, thời h n trả nợ, trách nhiệm hi h ng thanh toán nợ, và đưa bà L gi ản gốc, lãi suất hai ên thỏa thuận miệng. Đ n thời gian trả nợ trong giấy iên nhận vay nợ, bà L có đ n nhà vợ chồng bà H đòi tiền gốc và lãi theo thỏa thuận nhưng vợ chồng bà H hất lần và h ng có thiện chí trả nợ. Do đó à đề nghị Tòa án giải quy t uộc vợ chồng bà H, ông C phải trả cho à số tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng, à h ng yêu cầu trả tiền lãi.
uá trình tham gia tố t ng t i Tòa án, ị đơn Bà Vũ Thị H trình bày: Bà c ng nhận đ ng là ngày 10/3/2016 gia đình à có nhu cầu tu s a nhà c a và mua sắm ngư c đánh cá, vợ chồng à có àn c đi vay nợ về để lo việc nhà nên à có đ n nhà vợ chồng ông T, bà L hỏi vay tiền. Khi hỏi vay, ông T đồng ý cho vợ chồng à vay số tiền 100.000.000 đồng, ông T yêu cầu à tự vi t một giấy iên nhận vay nợ, à đồng ý vi t giấy iên nhận vay nợ ong và đọc l i cho ông T nghe, ông T đồng ý với nội dung trong giấy iên nhận vay nợ. Trước hi giao tiền vay, ông T có nói tiền lãi là 1.500đ/1 triệu/ngày nhưng h ng vi t tiền lãi trong giấy iên nhận vay nợ. Bà thấy tiền lãi cao quá nên quy t định h ng vay n a. Sau đó à đi về thì quên h ng cầm l i giấy iên nhận vay nợ à đã vi t. Nay bà L h i iện vợ chồng à, à h ng đồng ý trả nợ với lý do h ng ý tên cuối giấy iên nhận vay nợ ngày 10/3/2016 và thực t à cũng chưa nhận số tiền 100.000.000 đồng từ ông T, bà L. Bà H h ng có tài liệu, chứng cứ gì nộp cho Tòa án để chứng minh việc ông T, bà L chưa giao tiền cho à, do đó à đề nghị Tòa án giải quy t theo pháp luật.
T i ản tự hai ngày 19/02/2019 ông Nguyễn Văn C trình bày: Ông hoàn toàn nhất trí với nội dung bà H trình ày. Thời gian bà H hỏi vay tiền ông T là khi nhà ông bà có ý định s a ch a ổ sung nghề nghiệp để đi hai thác thủy sản và có thi u vốn, ng có nói với vợ là bà H đi huy động vốn ên ngoài. Sau hi bà H về nói chuyện tiền lãi cho vay là 1.500đ/1 triệu/1 ngày là quá cao nên ng h ng đồng ý vay lãi cao như th . Từ trước đ n giờ ng h ng i t Bà Mai Thị L là ai và t i sao l i iện bà H.
Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan trong v án - Ông Nguyễn Văn T trình bày: Ngày 10/3/2016 bà H có đ n nhà ng hỏi vay tiền về để mua sắm ổ sung nghề đi hai thác iển và s a ch a nhà c a, vì nể và tin tư ng vợ chồng bà H, ông C là người cùng óm quen i t nên vợ chồng ng à đồng ý cho vợ chồng bà H vay số tiền 100.000.000 đồng, có thỏa thuận thời h n vay là hai tháng, nghĩa v trách nhiệm trả nợ. Bà L (vợ ng) giao cho bà H số tiền 100.000.000 đồng sau đó bà H vi t giấy iên nhận nợ vi t tay giao cho bà L vợ ng gi . Đ n thời gian trả nợ vợ chồng bà H h ng trả nợ cho ng à cả gốc và lãi như đã thỏa thuận, vợ chồng ng à đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng bà H trả nợ nhưng vợ chồng bà H h ng trả, vì vậy mà vợ chồng ng à phải làm đơn iện t i Tòa án, ng đề nghị Tòa án uộc vợ chồng bà H - C phải trả cho vợ chồng ng số tiền nợ gốc 100.000.000 đồng, vì ng i t vợ chồng bà H còn nợ nhiều người nên ng h ng yêu cầu vợ chồng bà H phải trả tiền lãi.
Từ nội dung v án như trên, t i ản án dân sự sơ th m số 10/2019/TCDS-ST ngày 12/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu - t nh Nam Định, đã quy t định:
Căn cứ vào các Điều 166, 466, 470 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 147 BLTTDS; hoản 2 Điều 26 Nghị quy t số 326/2016/UBTV H14 của Ủy an Thường v uốc hội;
1.
chấp nhận yêu cầu h i iện của Bà Mai Thị L iện đòi l i tài sản đối với vợ chồng Bà Vũ Thị H, ng Nguyễn Văn C là hợp pháp.
2. Buộc vợ chồng Bà Vũ Thị H, ng Nguyễn Văn C phải thanh toán trả nợ cho Bà Mai Thị L, Ông Nguyễn Văn T số tiền nợ gốc 100.000.000 đồng
Ngoài ra, ản án sơ th m còn tuyên án phí, quyền háng cáo của các đương sự.
- Ngày 26/3/2019, Bà Vũ Thị H làm đơn háng cáo có nội dung: Kh ng nhất trí với các quy t định của ản án sơ th m vì thực t vợ chồng bà H chưa được nhận số tiền 100.000.000 đồng và ch “L...” trong giấy iên nhận vay nợ h ng phải là do bà H vi t. Vì vậy đề Tòa án cấp ph c th m trưng cầu giám định ch “L...” trong giấy iên nhận nợ ghi ngày 10/3/2016; em t, đánh giá chứng cứ là giấy iên nhận nợ ghi ngày 10/3/2016 một cách hách quan, đầy đủ để ác định đ ng sự thật, và tư cách h i iện của Bà Mai Thị L; em t l i việc uộc ông C cũng phải có trách nhiệm trả nợ vì thực t chồng à h ng đồng ý vay vì lãi suất quá cao.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bà Vũ Thị H, luật sư ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H vẫn gi nguyên nội dung háng cáo vì lý do: Bà H chưa nhận được tiền vay từ ông bà T- L nên h ng có nghĩa v phải trả nợ. Bà H và Luật sư ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H đều cho rằng ông bà T- L là người cho vay nặng lãi nên có sẵn số tiền lớn (100 triệu đồng) trong nhà để cho bà H vay, hi đưa sổ cho bà H vi t giấy iên nhận vay nợ thì bà H thấy có rất nhiều người đã vay tiền của ông bà T- L, đều có vi t giấy vay nợ và đều ý tên dưới giấy vay nợ, th t i sao giấy iên nhận vay nợ của bà H l i h ng có ch ý của bà H dưới? Luật sư ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H cho rằng giấy iên nhận vay nợ do bà H đã vi t được coi là Hợp đồng vay tài sản ằng văn ản, nhưng do các ên chưa ý nhận phía dưới nên căn cứ Điều 400, Điều 401 BLDS giấy iên nhận vay nợ này chưa có giá trị về mặt pháp lý. Đề nghị Hội đồng t s a ản án sơ th m, tuyên h ng chấp nhận yêu cầu h i iện của phía Nguyên đơn.
- Người đ i diện theo ủy quyền của Bà Mai Thị L vẫn gi nguyên quan điểm h i iện, vì lý do ông bà T- L đã giao đủ tiền vay cho bà H, bà H đã vi t giấy iên nhận vay nợ, nên bà H phải có nghĩa v trả nợ số tiền đã vay. Người đ i diện theo ủy quyền của Bà Mai Thị L còn dẫn chứng bà H cũng đi vay nhiều người t i địa phương, cũng ằng hình thức vi t giấy iên nhận vay nợ nhưng h ng ý tên rồi h ng trả nợ, cũng đã ị chủ nợ iện ra Tòa án huyện Hải Hậu đòi nợ. Vì vậy đề nghị Hội đòng t tuyên h ng chấp nhận yêu cầu háng cáo, gi nguyên các quy t định của ản án sơ th m.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát iểu ý i n:
Về tố t ng, quá trình giải quy t v án t i cấp ph c th m, Th m phán và Hội đồng t đã tuân theo các quy định pháp luật tố t ng dân sự. Các đương sự chấp hành đ ng các quy định pháp luật tố t ng dân sự, quyền lợi của các đương sự được ảo đảm.
Về nội dung kháng cáo, t giấy iên nhận vay nợ ghi ngày 10/3/2016 do bà H tự tay vi t thấy rằng, có sự việc bà H đã đ n nhà ông bà T- L để vay tiền, bà H h ng đưa ra được chứng cứ thể hiện chưa nhận được tiền vay, việc bà H không ký tên dưới giấy vay nợ h ng làm ảnh hư ng đ n nội dung giấy vay nợ. Vì vậy căn cứ hoản 1 Điều 308 BLTTDS đề nghị Hội đồng t
h ng chấp nhận yêu cầu háng cáo, gi nguyên ản án sơ th m.
Về án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ v án, đã được th m tra t i phiên toà, căn cứ vào t quả tranh t ng t i phiên toà, Hội đồng t nhận định:
Kháng cáo của ị đơn Bà Vũ Thị H làm trong thời h n luật định nên được Hội đồng t
em t theo trình tự tố t ng ph c th m.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Mai Thị L h i iện yêu cầu Bà Vũ Thị H phải thanh toán số tiền đã vay trong giấy “Biên nhận vay nợ” ghi ngày 10/3/2016, nên quan hệ pháp luật trong v án được ác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo nội dung giấy “Biên nhận vay nợ” ghi ngày 10/3/2016 thì giao dịch dân sự phát sinh tranh chấp ể từ ngày h t thời h n vay (10/5/2016). Căn cứ hoản 1 Điều 688; Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015 thì thời hiệu h i iện vẫn còn, vì vậy vẫn ác định quan hệ pháp luật trong v án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
t nội dung háng cáo thấy:
- Về yêu cầu trưng cầu giám định ch “L...” trong giấy “Biên nhận vay nợ” ghi ngày 10/3/2016, Tòa án nhân dân t nh Nam Định đã ra uy t định trưng cầu giám định số 29/2019/ Đ-TCGĐ ngày 04/6/2019 và đã có K t luận giám định số 569/KLGĐ- C09 ngày 05/7/2019 của hòng ỹ thuật hình sự - C ng an t nh Nam Định t luận ch “L...” trong giấy “Biên nhận vay nợ” ghi ngày 10/3/2016 với mẫu ch vi t “L...” trong Biên ản lấy mẫu ch vi t của Bà Vũ Thị H h ng phải do cùng một người vi t ra. Như vậy có cơ s hẳng định ch “L...” trong giấy “Biên nhận vay nợ” ghi ngày 10/3/2016 h ng phải do Bà Vũ Thị H vi t.
- t nội dung của giấy “Biên nhận vay nợ” ghi ngày 10/3/2016 thì thấy bà H đã trình ày tự tay vi t “… có vay của ng à T” - vì ông T bà L hiện đang là vợ chồng hợp pháp nên như vậy mặc nhiên hiểu rằng ng à T đây là ông T bà L. Mặt hác, ông T đã có đơn trình ày số tiền 100.000.000 đồng cho bà H vay là tài sản chung của vợ chồng ng bà T - L, như vậy căn cứ Điều 186 BLTTDS bà L có đủ tư cách pháp lý là Nguyên đơn để làm đơn h i iện trong v án này.
- t thấy, Bà Vũ Thị H đã hai nhận do gia đình có nhu cầu tu s a nhà c a và mua sắm d ng c đánh cá, nên ngày 10/3/2016 à đã đ n nhà vợ chồng ông T, bà L hỏi vay tiền. T i nhà ông bà T- L, Bà Vũ Thị H đã tự tay vi t giấy “Biên nhận vay nợ” ghi ngày 10/3/2016, trong đó ghi rõ số tiền vay, thời h n vay và trách nhiệm trả nợ. t tổng thể nội dung giấy “Biên nhận vay nợ” do chính tay bà H vi t ra thì thấy việc bà H h ng ý tên dưới cũng như ch “L...” không do bà H vi t ra cũng h ng làm thay đổi nội dung giấy “Biên nhận vay nợ” ghi ngày 10/3/2016,
Bà H đưa ra lý do “thấy tiền lãi cao quá nên quy t định h ng vay n a, sau đó đi về thì quên h ng cầm l i giấy “Biên nhận vay nợ” đã vi t là h ng phù hợp với thực t hách quan. Vì về mặt pháp lý cũng như trên thực tiễn khách quan, bà H có vay tiền thì vợ chồng ng à T - L mới có giấy “Biên nhận vay nợ” do bà H tự tay vi t, bà H h ng vay tiền thì vợ chồng ng à T - L không thể có giấy “Biên nhận vay nợ” do bà H tự tay vi t được.
Phía bà L ông T hẳng định bà H đã vi t giấy “Biên nhận vay nợ” ghi ngày 10/3/2016, đã nhận đủ tiền vay, nên ng à mới có giấy “Biên nhận vay nợ” để h i iện bà H ra tòa.
Trên cơ s phân tích hách quan, logic iện chứng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ v án, lời trình ày của các đương sự, đối chi u với các quy định của pháp luật và trên diễn i n thực t hách quan, Hội đồng t nhận thấy, có đủ căn cứ pháp lý để ác định, ngày 10/3/2016 Bà Vũ Thị H đã đ n nhà ông bà T- L hỏi vay tiền, bà H đã tự tay vi t giấy “Biên nhận vay nợ” ghi ngày 10/3/2016 để vay ng à T - L số tiền 100 triệu đồng. Bà H đã được nhận đủ số tiền vay này, thì ng à T - L mới cầm được giấy “Biên nhận vay nợ” ghi ngày 10/3/2016.
- Về việc Tòa án cấp sơ th m quy t định uộc ng Nguyễn Văn C phải có nghĩa v cùng bà H trả nợ. Hội đồng t nhận thấy trong quá trình giải quy t v án cả bà H và ông C đều thừa nhận là việc bà H đi vay tiền là do hai vợ chồng àn c vay tiền là để s a ch a nhà c a và mua sắm đồ nghề làm tàu đánh cá, như vậy m c đích vay tiền là về ph c v cho việc chi tiêu, sắm s a trong gia đình. Do đó việc cấp sơ th m uộc ông C cũng phải có nghĩa v trả nợ là hoàn toàn đ ng pháp luật.
Từ nh ng phân tích như trên, Hội đồng t nhận thấy, h ng có căn cứ chấp nhận háng cáo của Bà Vũ Thị H.
Về án phí và chi phí giám định: Do háng cáo của Bà Vũ Thị H không được chấp nhận nên Bà Vũ Thị H phải chịu án phí và chi phí giám định theo quy định của pháp luật.
Các quy t định hác của ản án sơ th m h ng có háng cáo - háng nghị, Hội đồng ph c th m h ng em t.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào hoản 1 Điều 308 BLTTDS; Điều 166, 466, 470 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 147, Điều 148 BLTTDS; Nghị quy t số 326/2016/UBTV H14 của Ủy an Thường v uốc hội.
1. Kh ng chấp nhận háng cáo của ị đơn Vũ Thị H, gi nguyên ản án sơ th m.
2. chấp nhận yêu cầu h i iện của Bà Mai Thị L.
3. Buộc vợ chồng Bà Vũ Thị H, ng Nguyễn Văn C phải thanh toán trả nợ cho Bà Mai Thị L, Ông Nguyễn Văn T số tiền nợ gốc 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng)
4. Về án phí:
4.1. Án phí dân sự sơ th m:
- Buộc vợ chồng Bà Vũ Thị H, ng Nguyễn Văn C phải nộp 5.000.000 (năm triệu) đồng tiền án phí dân sự sơ th m
- Hoàn l i cho Bà Mai Thị L số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) tiền t m ứng án phí đã nộp t i iên lai số AA/2016/0000295 ngày 13/02/2019 của Chi c c Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.
4.2.Án phí dân sự ph c th m:
Bà Vũ Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự ph c th m, được đối trừ với số tiền 300.000 đồng t m ứng án phí ph c th m bà H đã nộp theo biên l i số 0000361 ngày 26/3/2019 của Chi c c Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Bà H đã nộp đủ án phí dân sự ph c th m.
Bà Vũ Thị H phải chịu 1.530.000 (một triệu năm trăm a mươi nghìn) đồng tiền chi phí giám định (bà H đã nộp đủ cho cơ quan giám định)
Kể từ ngày ản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quy t định thi hành án) hoặc ể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các hoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đ n hi thi hành án ong tất cả các hoản tiền, hàng tháng ên phải thi hành án còn phải chịu hoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định t i hoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Bản án ph c th m có hiệu lực thi hành ể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy định t i các điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - VKS t nh NĐ - TAND huyện Hải Hậu; - Chi c c THADS huyện Hải Hậu; - Các đương sự; - Lưu HS, tòa DS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ý) Vũ Thị Mai Hương |