vanban.org

Bản án 52/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 04/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bi ̣ cáo Nguyễn Tấn P (tên gọi khác: B) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử pha ̣t bi ̣ cáo Nguyễn Tấn P 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ là từ ngày 08/3/2018 đến ngày 17/3/2018. Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bi ̣ cáo Nguyễn Tấn P (tên gọi khác: B) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH BẠC LIÊU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2018/HS-ST
Ngày 04-7-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tân

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ

Bà Nguyễn Thị Bích Tuyền

- Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Văn Định – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu tham gia

phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Ngộ - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2018/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2018/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Tấn P (tên gọi khác: B), sinh năm 1992

Nơi cư trú: Đường T, khóm M, phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành T, sinh năm: 1950 và bà Nguyễn Ánh H, sinh năm: 1960; anh chị em ruột 04 người, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất bị cáo; tiền án: không; tiền sự: 01 lần. Ngày 08/9/2017, bị Công an phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành đóng phạt; bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 08/3/2018 đến ngày 17/3/2018 cho tại ngoại đến nay. “có mặt”.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tấn P: Ông Trần Văn V – Luật sư của văn phòng Luật sư Nguyễn Thị H, thuộc đoàn luật sư tỉnh Bạc Liêu. “có mặt”.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị X (tên gọi khác: H), sinh năm 1980. Nơi cư trú: đường M, khóm N, phường T, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tấn P là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định và đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành đóng phạt.

Khoảng 10 giờ, ngày 08/3/2018, Nguyễn Tấn P điều khiển xe mô tô biển số 94K1- 077.31 trên các tuyến đường trong nội ô thành phố B để tìm tài sản người khác để sơ hở lấy trộm. Khi đi ngang quán ăn X của bà Nguyễn Thị X trên đường M, khóm N, phườ ng T, thành phố B, P thấy 13 cá ghế nhựa màu đỏ có lưng tựa và tay vịnh nhãn hiệu Duy Tân xếp thành một chồng để trong quán. Quan sát thấy không có ngườ i trông coi nên P dừng xe lại đi vào lấy13 cái ghế nhựa đem ra để lên yên xe rồi điều khiển xe chở đi tiêu thụ, lúc này bà X phát hiện và nhờ ông Trương Quốc T và anh Trần Hồng H điều khiển xe đuổi theo. Khi đuổi đến trước Bệnh viện TV 2 thuộc khóm M, phường T, thành phố B thì bắt giữ được P cùng tang vật.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTS ngày 09/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bạc Liêu kết luận: 13 ghế nhựa có lưng tựa và tay vịnh, nhãn hiệu Duy Tân, màu đỏ đã qua sử dụng có giá là 880.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 30 tháng 5 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo Nguyễn Tấn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P từ 03 tháng đến 04 tháng tù.

+ Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo P trình bày: Về tội danh thống nhất với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, hành vi của bị cáo P đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nghề nghiệp ổn định (là thợ điện lạnh) nên đề nghị Hội đồng xét xử ngoài việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự thì cần áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xử phạt bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt (xử phạt 03 tháng tù) và cho bị cáo được hưởng án treo.

- Bị cáo Nguyễn Tấn P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Sau khi nghe Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu trình bày luận tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bạc Liêu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tấn P không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về nội dung vụ án : Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Tấn P tại

phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra; lờ i khai của bi ̣ cáo phù hợp lờ i khai của người làm chứng (người trực tiếp bắt giữ bị cáo) ông Trương Quốc T, anh Trần Hồng H và người bi ̣ ha ̣i Nguyễn Thị X về thời gian , địa điểm, đặc điểm tài sản , cách thức chiếm đoa ̣t tài sản ; đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố và đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó , đủ căn cứ chứng minh:

Vào khoảng 10 giờ ngày 08/3/2018, tại quán ăn X, đường M, khóm N, phườ ngT, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, Nguyễn Tấn P đa có hành vi lén lút chiếm̃ đoạt 13 cái ghế nhựa có lưng tựa và tay vịnh, nhãn hiệu Duy Tân, màu đỏ có giá là 880.000 đồng của bà Nguyễn Thị X.

Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Nguyễn Tấn P

có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Mă ̣c dù giá tri ̣ tài sản chiếm đoạt ch ưa đủ đi ̣nh lượng nhưng bi ̣ cáo đa ̃ bị xử phạt hành chính về hành vi trô ̣m cắp tài sản , chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính . Do đó , hành vi lén lút chiếm đoạt 13 cái ghế có gái trị 880.000 đồng của bà Nguyễn Thị X do bị cáo thực hiện đa đủ yếũ tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Bị cáo pha ̣m tô ̣i lần đầu và thuô ̣c trường hợp it nghiêm tro ̣ng ; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị

́ cáo thành khẩn khai báo; tài sản chiếm đoạt không lớn, sau khi bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi lại liền và trả cho người chủ sở hữu nên thuộc trường hợp gây thiệt hại không lớn. Vì vậy, áp dụng các quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 nên áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo P là phù hợp.

Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tấn P về việc cho bị cáo được hưởng án treo, Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo P có nhân thân không tốt (đã bị xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính) nên không đủ điều kiện cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự. Đồng thời, bản thân bị cáo Nguyễn Tấn P nghiện ma túy nên để cắt cơn nghiện và cai nghiện ma túy cho bị cáo, vừa nhằm mục đích răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần tuyên truyền giáo dục pháp luật thì việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Phát là cần thiết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của người bào chữa cho bị cáo Phát.

Về trách nhiê ̣m dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì khác nên Hô ̣i đồng xét xử không đă ̣t ra xem xét.

Đối với xe mô tô biển số 94K1-077.31 do bị cáo Nguyễn Tấn P dùng làm phương tiện phạm tội. Xét thấy, xe mô tô này thuộc quyền sở hữu của chị Nguyễn Tuyết A, khi bị cáo Nguyễn Tấn P dùng xe trên để làm phương tiện phạm tội thì chị A không biết nên cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho chị A là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Ba ̣c Liêu về

tội danh, hình phạt và các nội dung khác đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp

luâ ̣t.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bi ̣ cáo Nguyễn Tấn P (tên gọi khác: B) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 và khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự.

Xử pha ̣t bi ̣ cáo Nguyễn Tấn P 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ là từ ngày 08/3/2018 đến ngày 17/3/2018.

2. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo Nguyễn Tấn P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo : Án xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án . Riêng bị hại vắng mă ̣t ta ̣i phiên tòa có quyền kháng bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhâ ̣n đ ược bản án hoă ̣c kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t.

Cỡ chữ