vanban.org

Bản án 52/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La Tuyên án 30/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 (ba) tháng tù. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016. Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn Văn H - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ YÊN
TỈNH SƠN LA
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2018/HS-ST
Ngày 30-8-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cầm Xuân Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Bống và bà Bàn Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngoãn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2018/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1990 tại Phù Yên – Sơn La, nơi cư trú: bản Ngã B, xã Mường C, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Đảng phái, đoàn thể, tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H và bà Phan Thị Th; Bị cáo có vợ là Lê Thị H và 01 con sinh năm 2016; Tiền án: không, có 01 tiền sự: ngày 21-6-2016 bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 30 tháng 5 năm 2018 đến nay, có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1985. Nơi cư trú: bản Ngã B, xã Mường C, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ sáng ngày 04-5-2018 Nguyễn Văn H đi bộ từ nhà đến nhà Nguyễn Xuân Đ hỏi xin số điện thoại của anh G. Đến nhà anh Đ, H không thấy người nào ở nhà. H đi vào phòng ngủ của vợ chồng anh Đ thì thấy 01 chiếc máy Ipad, để ở nóc tủ nhôm kính đựng quần áo, cạnh gường ngủ. Lúc này, H nảy sinh ý định trộm cắp chiếc Ipad trên. H dùng tay phải cầm chiếc Ipad, giấu vào trong bụng và dùng áo che lại và đi thẳng về khu vực Ngã B gần Trạm Cảnh sát giao thông Mường C thì gặp Nguyễn Văn L, sinh năm 1992 (trú tại: bản Văn Tân, xã Mường Cơi, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La). H rủ Linh đi bán máy Ipad để lấy tiền cùng sử dụng. L đồng ý đi cùng H, do không có xe nên H gọi điện thoại di động cho Phan Văn Th, sinh năm 1972 (trú tại: bản Nghĩa Hưng, xã Mường Cơi, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La) mang xe máy đến Ngã Ba, xã Mường Cơi để chở H và Linh đi bán máy Ipad.

Khoảng 20 phút sau, Phan Văn Th đi xe máy đến gặp H và L. Thanh hỏi H: “Chiếc máy Ipad đang ở đâu? Máy của ai?”. H lấy chiếc Ipad ra cho Th xem và nói: “máy Ipad là của vợ tôi”. Thanh không nói gì và điều khiển xe máy, chở H, L đi vào thị trấn Phù Yên để bán, nhưng do máy hết pin nên không bán được. Thanh tiếp tục chở H và Linh đi về, khi đi đến khu vực bản Ếch, xã Mường Cơi thì xe bị hỏng săm nên không đi tiếp được.

Sau đó, L xuống xe và đi bộ về nhà còn H và Th ở lại khu vực bản Ếch chờ đến khoảng 15 giờ cùng ngày, H nhìn thấy anh Hoàng Ngọc H2, sinh năm 1990 (trú tại: bản Tường Ban, xã Mường Cơi, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La) đi xe máy từ thị trấn Phù Yên về hướng xã Mường C. H gọi H2 để xin đi nhờ xe. Trên đường đi, H hỏi H2 có muốn mua máy Ipad không thì H2 muốn xem máy Ipad nên dừng xe và H lấy Ipad ra cho H2 xem và nói giá 500.000 đồng. Lúc đó, Th cũng đến cùng chỗ của H và H2. Sau khi thỏa thuận giá bán chiếc Ipad xong thì H nhờ Th đứng ra bán chiếc Ipad trên cho H2 với giá 400.000 đồng. H2 nhận máy Ipad và trả cho Th số tiền 400.000 đồng.

Sau khi Thanh nhận tiền, H nói với Th là chiếc Ipad bán cho H2 là do H trộm từ nhà hàng xóm. Nghe H nói xong, Th không nói gì mà dùng số tiền 400.000 đồng trên đi sửa xe hết 100.000 đồng , sau đó H và Th cùng đi đến khu vực Văn Ch - Yên B mua ma túy về sử dụng hết số tiền 300.000 đồng (VNĐ);

Ngày 07-5-2018 anh Nguyễn Xuân Đ phát hiện chiếc máy Ipad của gia đình bị mất đang ở chỗ anh Hoàng Ngọc H. Anh Đ đã đến mua (chuộc) lại chiếc Ipad trên với số tiền 500.000 đồng (VNĐ).

Do có hành vi trên, tại bản cáo trạng số: 32/CT-VKSPY ngày 17-7-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015; các điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 03 (ba) đến 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày 30-5-2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên đã trả lại tài sản cho bị hại là anh Nguyễn Xuân Đ là 01 chiếc Ipad. Anh Nguyễn Xuân Đ không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn L, Phan Văn Th và Nguyễn Ngọc H2 đều không biết chiếc Ipad là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên coi L, Th và H2 là người làm chứng trong vụ án.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngày 04-5-2018 Nguyễn Văn H đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản, lén lút chiếm đoạt 01 chiếc Ipad của anh Nguyễn Văn Đ. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

Đơn đề nghị về việc trình báo mất tài sản ngày 18-5-2018 của Nguyễn Xuân Đ;

Lời khai nhận tội của bị cáo;

Biên bản khám nghiệm hiện trường lập hồi 14 giờ 30 phút, ngày 18/5/2018 tại bản Ngã B, xã Mường C, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

Vật chứng thu giữ trong vụ án.

Kết luận định giá tài sản số: 13/KL-ĐGTS ngày 18-5-2018 của Hội đồng định giá tài sản, kết luận 01 chiếc máy Ipad, màu trắng, màn hình cảm ứng 9 inch, kiểu máy: SFDFDKH/A, Số seri: HGHGH3GFGH09, còn trị giá 60%, có giá trị là 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng).

Với các căn cứ chứng minh trên, có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Văn H phạm tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Nguyễn Văn H đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại là anh Nguyễn Văn Đ với giá trị tài sản là 2.400.000 đồng đã vi phạm khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quy định mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy. Ngày 21-6-2016 Tòa án nhân dân huyện Phù Yên ra Quyết định số: 06/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 18 tháng. Tuy nhiên Nguyễn Văn H chỉ chấp hành được 08 tháng 02 ngày tại cơ sở cai nghiện và được tạm đình chỉ chấp hành biện pháp xử lý hành chính do bị ốm nặng phải đưa về gia đình điều trị. Hành vi của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo tích cực bồi thường, thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Mặt khác, quá trình điều tra người bị hại đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, điều kiện hoàn cảnh khó khăn, con còn nhỏ. Do vậy, cần xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh khó khăn, nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để lên mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, tạo điều kiện, cơ hội để bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng. Bị cáo sống phụ thuộc gia đình bố mẹ đẻ nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Văn Đ đã nhận lại tài sản và được bồi thường số tiền 500.000 đồng anh Đ đã chi để chuộc lại chiếc Ipad anh Đ không yêu cầu gì thêm, cần chấp nhận.

Đối với Phan Văn Th, Nguyễn Văn L và Hoàng Ngọc H2 không biết chiếc Ipad là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không có cơ sở điều tra làm rõ.

Về vật chứng vụ án: Cần chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên, trả lại tài sản cho bị hại Nguyễn Văn Đ là 01 chiếc Ipad, màu trắng, màn hình cảm ứng 9 inch, kiểu máy: SFDFDKH/A, Số seri: HGHGH3GFGH09; máy cũ, đã qua sử dụng;

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật;

Trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên, Kiểm sát viên những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đều đảm bảo và phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 (ba) tháng tù.

2. Căn cứ khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016. Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ