- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà H yêu cầu ly hôn với ông T, có đăng ký kết hôn, không có con chung, không yêu cầu giải quyết tài sản"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2018/HNGĐ-ST Ngày: 10-8-2018 V/v tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Thanh Hoàng;
Bà Nguyễn Thị Mai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quới - thư ký Tòa án nhân dân huyện
Tịnh Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên
tòa: Bà Neàng Sa Men – kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2018/TLST-HNGĐ ngày 10
tháng 5 năm 2018 về việc "Xin ly hôn" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
47/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1983. HKTT: ấp V, xã V,
huyện T, tỉnh A. Chổ ở hiện nay: số nhà 21, khóm X, thị trấn T, huyện T, tỉnh
A, có mặt;
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp V, xã V,
huyện T, tỉnh A, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện lại ngày 17 tháng 4 năm 2018 và các lời khai tại Tòa
án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc H trình bày: bà và ông
Nguyễn Thanh T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn ngày 28 tháng 12
năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T. Cuộc sống hôn nhân không hạnh
phúc, nguyên nhân do anh T không lo làm ăn, bỏ bê gia đình. Khoảng tháng 9
năm 2017 thì vợ chồng không còn chung sống với nhau và tôi đã về nhà tại ấp
P, xã A sinh sống.
Về hôn nhân: yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: không
có.
- Đối với ông Nguyễn Thanh T đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng
thông qua việc niêm yết công khai về: thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn ông T vắng mặt, nên Tòa án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hòa giải được.
Ngày 20-7-2018 Tòa án mở phiên tòa xét xử và đã triệu tập hợp lệ các
đương sự nhưng chỉ có mặt nguyên đơn, bị đơn vắng mặt không có lý do nên Tòa án hoãn phiên tòa lần thứ nhất.
Tại phiên tòa hôm nay, ông T vắng mặt. Nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc H
vẫn giữ nguyên yêu cầu và không cung cấp tài liệu chứng cứ gì thêm cho Tòa án.
* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên phát biểu ý
kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký
Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn thực hiện quyền
và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông
T có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy về tình cảm bà H và ông T không còn hạnh phúc, cả hai bỏ mặt không còn quan tâm, chung sống với nhau, thể hiện từ tháng 9 năm 2017 thì bà H đã về nhà tại ấp P, xã A, huyện T sống. Như vậy, thấy rằng cuộc sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt, về con chung, tài sản chung, nợ chung: không có. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Ngọc H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Bị đơn ông Nguyễn Thanh T đã được Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên
triệu tập hợp lệ có mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nhưng vắng mặt. Hội đồng xét
xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa
án tiến hành xét xử vụ án.
- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Thanh T có đăng ký hộ
khẩu thường trú tại ấp V, xã V, huyện T, tỉnh A. Tòa án nhân dân huyện Tịnh
Biên thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản
1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Bà H và ông T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn
ngày 28 tháng 12 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T theo đúng quy
định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, nên đây là hôn nhân
hợp pháp. Theo biên bản xác minh tại địa phương ngày 02 tháng 7 năm 2018 và
lời khai của nguyên đơn, thì thấy rằng giữa bà H và ông T đã không còn sống
chung với nhau, cả hai bỏ mặt không còn quan tâm, thể hiện từ tháng 9 năm
2017 thì bà H đã về nhà tại ấp P, xã A, huyện T sinh sống, bỏ mặt không quan
tâm lẫn nhau. Điều này chứng minh tình cảm của vợ chồng không còn, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Lê Thị
Ngọc H xin ly hôn là có căn cứ.
- Về quan hệ con chung: không có.
- Về quan hệ tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: bà H khai không có.
Do đó, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hồi đồng
xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.
Về án phí: bà Lê Thị Ngọc H khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án
phí dân sự hôn nhân sơ thẩm theo mức không giá ngạch. Ông Nguyễn Thanh T
không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc H xin ly
hôn với ông Nguyễn Thanh T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Ngọc H được ly hôn với ông Nguyễn
Thanh T.
- Về con chung: không có.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có.
2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Ngọc H phải chịu
300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: TU/2016/0004186 ngày 10 tháng 5 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên. Bà H đã nộp xong.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sư; - VKSND h.Tịnh Biên; - Chi cục THADS h.TB; - Tòa án nhân dân tỉnh; - Lưu HS & VP. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Ngọc Mỹ |