vanban.org

Bản án 52/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Huỳnh Thị Đ ly hôn ông Nguyễn Văn N. Về nuôi con chung: Giao bà Huỳnh Thị Đ được trực tiếp nuôi 01 con chung tên Nguyễn Kim T, sinh ngày 14/4/2012, giao ông Nguyễn Văn N được trực tiếp nuôi 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 20/5/2006, ông Nguyễn Văn N và bà Huỳnh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn giữa Huỳnh Thị Đ và Nguyễn Văn N"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦ THỪA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 52/2018/HNGĐ-ST
Ngày 20-7- 2018
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA -TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Lưu Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1- bà Nguyễn Thị Thu Tâm

2- ông Bùi Mạnh Quyết

Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa.

Ngày 20 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 146/2018/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/6/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: bà Huỳnh Thị Đ – sinh năm: 1986.(có mặt)

Địa chỉ: ấp 7 xã N, huyện T, tỉnh Long An.

Bị đơn: ông Nguyễn Văn N - sinh năm:1978.(có mặt)

Địa chỉ: ấp 7 xã N, huyện T, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 22/5/2018, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ trình bày: Về quan hệ hôn nhân, bà Đ và ông N tự tìm hiểu, được gia đình hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn năm 2006 tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 18/2006. Trong thời gian chung sống tình cảm vợ chồng hạnh phúc nhưng từ năm 2017 đến nay vợ chồng có mâu thuẩn ngày càng lớn dần không thể hàn gắn được, vợ chồng sống ly thân từ ngày 07/6/2018 đến nay, nay bà Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn với ông N.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 20/5/2006 và Nguyễn Kim T, sinh ngày 14/4/2012. Khi ly hôn bà Đ yêu cầu được nuôi con Nguyễn Kim T, giao con Nguyễn Huỳnh N cho ông N nuôi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn như bà Đ trình bày đúng, theo yêu cầu ly hôn của bà Đ ông N không đồng ý vì còn thương vợ thương con.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 20/5/2006 và Nguyễn Kim T, sinh ngày 14/4/2012. Nếu trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì ông N đồng ý cho bà Đ được nuôi con Nguyễn Kim T, con Nguyễn Huỳnh N ông N nuôi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tranh chấp đã được Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa tổ chức hoà giải nhưng hòa giải không thành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1 Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định tranh chấp giữa bà Huỳnh Thị Đ với ông Nguyễn Văn N là tranh chấp về ly hôn. Căn cứ vào nơi cư trú của bị đơn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: hôn nhân giữa bà Huỳnh Thị Đ và ông Nguyễn Văn N xác lập vào năm 2006 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng về sống với nhau bên gia đình ông N hạnh phúc đến năm 2017 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ ngày 07/6/2018 cho đến nay. Như vậy mâu thuẫn giữa bà Đ và ông N ngày càng nghiêm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên bà Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông N. Tại phiên tòa bà Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông N. Xét hôn nhân giữa bà Đ và ông N lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ, bà Đ được ly hôn với ông N.

Về nuôi con chung: bà Huỳnh Thị Đ và ông Nguyễn Văn N có 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 20/5/2006 và Nguyễn Kim T, sinh ngày 14/4/2012. Hiện tại con Nguyễn Kim T đang ở với bà Đ và do cháu Nguyễn Kim T chưa đủ 07 tuổi nên Tòa án không hỏi ý kiến của cháu T nên giao con Nguyễn Kim T cho bà Huỳnh Thị Đ trực tiếp nuôi là phù hợp và ổn định tâm lý của đứa trẻ, con Nguyễn Huỳnh N có nguyện vọng ở với ông N và hiện tại cháu N đang ở với ông N nên giao cháu N cho ông N trực tiếp nuôi là phù hợp và ổn định tâm lý của đứa trẻ, bà Đ và ông N không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản, nợ chung: bà Đ và ông N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: bà Huỳnh Thị Đ là nguyên đơn nên phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Huỳnh Thị Đ ly hôn ông Nguyễn Văn N.

Về nuôi con chung: Giao bà Huỳnh Thị Đ được trực tiếp nuôi 01 con chung tên Nguyễn Kim T, sinh ngày 14/4/2012, giao ông Nguyễn Văn N được trực tiếp nuôi 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 20/5/2006, ông Nguyễn Văn N và bà Huỳnh Thị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Văn N và bà Huỳnh Thị Đ được quyền thăm, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Đ phải chịu 300.000 đồng tiền án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003350 ngày 07/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, bà Đ đã nộp đủ án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bà Đ và ông N biết nếu không đồng ý với quyết định của bản án thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 20/7/2018.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ