vanban.org

Bản án 52/2018/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị K về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn”.

2. Giao cho ông Vĩnh Tuấn Q trực tiếp, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phước B, sinh năm 2011 cho đến khi đủ 18 tuổi. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, bà Đỗ Thị K và ông Vĩnh Tuấn Q có quyền yêu cầu Tòa án thay … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị K về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TH NH PH NHA T ANG
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 52/2018/HNGĐ - ST
Ngày: 04 - 5 - 2018
V/v:“Tranh chấp về thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TH NH PH NHA T ANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Huy Liên

Ông Nguyễn Đức Đẹp

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thúy Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình, thụ lý số 248/2018/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2018 về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2018/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2018/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2018 và Thông báo dời ngày xét xử số 75 ngày 26 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị K, sinh năm 1978. Địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú: đường T, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Chổ ở: đường H, thôn Hòn R, xã Đ, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Vĩnh Tuấn Q, sinh năm 1971. Địa chỉ: đường T, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23/02/2018, bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Đỗ Thị K trình bày: Bà và ông Vĩnh Tuấn Q đã ly hôn theo Bản án số 01/2014/HNGĐ-ST ngày 02/01/2014 của Tòa án nhân dân thành phố N. Theo bản án ly hôn thì bà là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phước B, sinh năm 2011, còn ông Vĩnh Tuấn Q trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phước H, sinh năm 2008. Tuy nhiên, năm 2014 bà bị Tòa án nhân dân tỉnh K xử phạt 14 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Ngày 26/01/2018 bà có quyết định thi hành án hình phạt tù. Tuy nhiên, ngày 24/02/2015 thì bà sinh con là cháu Đỗ Hoàng H (con riêng của bà) nên bà đã được hoãn chấp hành hình phạt tù thời hạn 36 tháng, kể từ ngày 24/02/2015. Đến nay thời gian hoãn chấp hành hình phạt tù của bà đã hết, sắp tới bà sẽ phải đi thi hành án 14 năm tù, không có điều kiện để chăm sóc cháu Nguyễn Phước B. Do vậy, bà đề nghị Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con từ bà sang ông Q, giao cháu B cho ông Q trực tiếp nuôi dưỡng.

* Tại bản tự khai ngày 28/3/2018, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn ông Vĩnh Tuấn Q trình bày:

Ông và bà Đỗ Thị K đã ly hôn theo Bản án số 01/2014/HNGĐ-ST ngày 02/01/2014 của Tòa án nhân dân thành phố N. Theo bản án ly hôn thì bà K được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phước B, sinh năm 2011, còn ông được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phước H, sinh năm 2008. Ông biết bà K bị xử phạt 14 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bà K làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, giao cho ông nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phước B thì ông không đồng ý bởi vì, sau khi ly hôn ông đã lập gia đình mới (vợ mới của ông cũng có con riêng), ông phải chăm lo cho gia đình mới của ông. Ông làm bác sĩ nên công việc của ông bận rộn, không có thời gian chăm lo cho cháu B. Ông đề nghị giao cháu B cho gia đình bên bà K nuôi dưỡng, ông sẽ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Phát biểu tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên nhận định: Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang thụ lý giải quyết vụ kiện là đúng thẩm quyền, có căn cứ, đúng pháp luật. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự đúng quy định. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử thẩm tra, xem xét công khai tại phiên tòa. Về nội dung vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Giao cháu Nguyễn Phước B, sinh năm 2011 cho ông Vĩnh Tuấn Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Nguyên đơn bà Đỗ Thị K khởi kiện bị đơn ông Vĩnh Tuấn Q có địa chỉ tại đường T, phường P, thành phố N về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.

Về nội dung tranh chấp:

Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 01/2014/HNGĐ-ST ngày 02/01/2014 của Tòa án nhân dân thành phố N, thì bà K là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phước B, sinh năm 2011, ông Vĩnh Tuấn Q là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phước H, sinh năm 2008.

Tuy nhiên, vào ngày 05/9/2014 bà K bị Tòa án nhân dân tỉnh K xử phạt 14 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 14/2014/HSST của Tòa án nhân dân tỉnh K. Ngày 26/01/2015 Tòa án nhân dân tỉnh K đã có quyết định thi hành án hình phạt tù số 01/20158/QĐ-CA thi hành hình phạt 14 (mười bốn) năm tù đối với bà K. Ngày 11/02/2015 bà K có đơn xin hoãn chấp hành hình phạt tù lý do sinh con và đang nuôi con nhỏ. Ngày 24/02/2015 bà K đã sinh cháu Đỗ Hoàng H tại bệnh viện đa khoa M, nên ngày 16/3/2015 Tòa án nhân dân tỉnh K có quyết định số 02/2015/QĐ-CA quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù, thời hạn hoãn là đến ngày 24/02/2018 (Cháu Đỗ Hoàng H đủ 36 tháng tuổi). Ngày 30/01/2018 Tòa án nhân dân tỉnh K có thông báo số 09/KTNV-THA/TA về việc thi hành án hình sự đối với bà K. Như vậy, đến hết ngày 24/02/2018 nguyên đơn bà K đã hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt 14 năm tù.

Việc bà K đi chấp hành hình phạt tù sẽ ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu B. Nếu để bà K tiếp tục nuôi dưỡng cháu B, trong khi bà K phải đi chấp hành hình phạt tù sẽ không đảm bảo được lợi ích tốt nhất cả về thể chất và tinh thần cho cháu B. Việc để bà K tiếp tục nuôi dưỡng cháu B chỉ trừ khi ngoài bà K ra, cháu B không còn cha hoặc còn cha nhưng cha không đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc cháu B.

Tại phiên tòa bị đơn ông Q trình bày do ông đã có gia đình mới (vợ mới của ông cũng có con riêng), ông phải chăm lo cho gia đình mới và ông làm bác sĩ, nên công việc của ông bận rộn, không có thời gian chăm lo, nuôi dưỡng cháu B. Ông đề nghị giao cháu B cho gia đình bên bà K nuôi dưỡng ông có trách nhiệm chu cấp tiền cấp dưỡng. Về vấn đề này, Hội đồng xét xử nhận thấy: Ông Q là cha của cháu Nguyễn Phước B, là bác sĩ và đang công tác tại một bệnh viện của tỉnh K. Ông Q có nơi cư trú ổn định, có khả năng về kinh tế để nuôi dưỡng, chăm sóc cho cháu B. Việc ông Q lấy vợ, có gia đình mới không phải là điều kiện để loại trừ trách nhiệm nuôi con của ông Q. Mặt khác, việc trông nom, nuôi dưỡng con chưa thành niên là nghĩa vụ của cha mẹ. Tại khoản 2 Điều 69 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ như sau “2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên…” Tại khoản 1 Điều 71 của Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định “Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên…”. Bà K là người đang trực tiếp nuôi cháu B, nhưng bà K phải đi chấp hành hình phạt tù, nên không còn đủ điều kiện để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu B. Trong khi đó, như đã phân tích ông Q có đủ điều kiện để nuôi dưỡng và chăm sóc cháu B. Do vậy, những lý do ông Q đưa ra để từ chối việc nuôi con là không có cơ sở, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Từ những phân tích nói trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà K về việc giao cháu B, sinh năm 2011 cho ông Q trực tiếp, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng, là có cơ sở, phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 nên được chấp nhận.

Về án phí: Ông Q phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 147, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 69, 71; điểm b khoản 2 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên xử:

1.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị K về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn”.

1.2. Giao cho ông Vĩnh Tuấn Q trực tiếp, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phước B, sinh năm 2011 cho đến khi đủ 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, bà Đỗ Thị K và ông Vĩnh Tuấn Q có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

Quy định: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

2. Về án phí: Ông Vĩnh Tuấn Q phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Hoàn lại cho bà Đỗ Thị K 300.000 đồng số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0008465 ngày 26/02/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố N

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ