vanban.org

Bản án 52/2018/DSPT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 08/10/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/10/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp du ̣ng khoản 3 Điều 308 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự ; Điều Điều 48 Nghị quyết

326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án, L phí Tòa án; Chấp nhận mô ̣t phần kháng cáo của bị đơn chị Trần Thị Tú L. Huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 04/2018/DSST ngày 24/5/2018 của Tòa án Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản (tiền)"
  • Tòa quyết gì? Áp du ̣ng khoản 3 Điều 308 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự ; Điều Điều 48 Nghị quyết
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2018/DSPT.
Ngày: 08/10/2018
V/ v: “Tranh chấp HĐVTS”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-------------------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Anh Dân

- Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế và Bà Dương Thị Liên.

- Đại diện VKS tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nam - Kiểm sát viên

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy - Cán bộ tòa

án nhân dân tỉnh Thái Nguyên .

Ngày 08 tháng 10 năm 2018, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái

Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 32/2018/DSPT ngày 05/7/2018 về tranh hợp đồng vay tài sản (tiền). Do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2018/DSST ngày 24/5/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên có kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2018/QĐ - PT ngày 02/8/2018, giữa các đương sự :

Nguyên đơn: Ông Mai Xuân CH, sinh năm 1969;

Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố ST, phường BS, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên

(Vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Quyết Th1;

Địa chỉ: số nhà 307, tổ 3, phường TL, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Th2 -

Luật sư - Văn phòng luật sư TH- Thuộc Đoàn luật sư tỉnh Thái Nguyên.

(Ông Th1, bà Th2 có mặt).

Bị đơn: Chị Trần Thị Tú L, sinh năm 1983;

Địa chỉ: tổ 1c, khu 8, phường NT, thành phố VT, tỉnh Phú Thọ.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Trần Thiện Th3, Luật

sư văn phòng Luật sư BST - Đoàn luật sư Thành Phố Hà Nội.

(Chị L, ông Th3 có mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư xây

dựng SA.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị Tú L - chức vụ: Tổng giám đốc

Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư xây dựng SA;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn Q - chức vụ: Phó tổng giám đốc

công ty XNK SA(Ông Quế, bà L có mặt).

Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Văn Th4; Địa chỉ: Tổ dân phố ST, phường BS, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên

- Bà Trần Thị Th5;

Địa chỉ: Tổ dân phố ST, phường BS, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên. (Bà Th5,

ông Th4 vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Mai Xuân CH, khở i kiê ̣n chi ̣ Trần Tú Lê ̣ , yêu cầu trả tiền

vay 408.000.000đ và lãi suất theo quy định của pháp luật. Các lần ông CH cho chị L vay và chứng cứ ông CH cung cấp, cụ thể như sau: Lần 1: Ngày 23/6/2014, chị L vay 80.000.000đ, hẹn đến ngày 31/12/2014 trả. Lần 2: Ngày 09/7/2014, chị L vay 80.000.000đ, hẹn đến ngày 31/12/2014 trả. Lần 3: Ngày 10/11/2014, chị L 96.000.000đ, hẹn đến ngày 31/12/2014 trả. Lần 4: Ngày 05/6/2015, chị L vay 72.000.000đ, hẹn đến ngày 15/6/2015 trả. Lần 5: Ngày 07/10/2015, chị L vay 80.000.000đ, hẹn đến ngày 31/12/2015 trả.

Về địa điểm ký kết các giấy vay nợ (giao – nhận tiền) đều diễn ra tại gia đình

ông ở tổ dân phố Tổ dân phố ST, phường BS, thị xã PY, Thái Nguyên. Chị L ký nhận vào giấy biên nhận vay tiền (giấy này ông đã đánh máy sẵn chỉ viết tay tên người vay, số chứng minh thư nhân dân, tên người thừa kế, số điện thoại của người vay, nơi cư trú của người vay, số tiền vay, ngày tháng thời gian vay đến thời gian trả sau đó ký tên bên vay và bên cho vay).

Trong giấy vay tiền ngày 23/6/2014 có tên người thừa kế là Lê Đức T (có

anh Tký tên Lê Đức T ); Giấy vay ngày 09/7/2014 có tên người thừa kế là Nguyễn Văn Th4 (có anh Th4 ký tên); Trong giấy vay tiền ngày 10/11/2014 chị L có viết là P. Tổng giám đốc, có đóng dấu của Công ty XNK SIAAI ở bên vay. Tuy nhiên ông CH xác định đây là khoản tiền chị L vay cá nhân chứ không liên quan đến anh T , anh Th4 và cũng không phải là Công tySA vay.

Về lai suẫ

́t: Trong 5 lần vay tiền, không ghi lãi suất mà hai bên chi thỏ ̉a Thuận

miê ̣ng vớ i nhau là 2%/tháng.

Cho đến thời điểm ông khởi kiện, chị L không Th4 toán trả ông tiền gốc mà

mớ i trả ông được 36.000.000đ tiền lãi. Nay ông yêu cầu Tòa án buộc chị L phải trả ông số tiền 496.824.329 đồng, trong đó nợ gốc là 408.000.000 đồng và số tiền lãi tính đến ngày xét xử 24/5/2018 là 124.824.329 đồng (theo lãi suất là 9%/năm) trừ khoản tiền 36.000.000đ tiền lãi, chị L đã chuyển trả ông hai lần qua tài khoản. Nay chị L còn phải trả ông 88.824.329đồng tiền lãi. Đối với bà Th5, vợ ông CH ông xác đi ̣nh không liên quan.

Bị đơn chị Trần Thị Tú L không đồng ý với yêu cầu khở i kiê ̣n của ông CH.

Chị L có ý kiến Trong 5 giấy nhâ ̣n nợ do ông CH cung cấp. Chị L thừ a nhâ ̣n có có 03 giấy vay tiền vào các ngày 23/6/2014; 9/7/2014 và 10/11/2014 là nợ gốc , tổng 200.000.000đ. Đối với giấy nhận nợ ngày 5/6/2015 thực chất là lai cũ ̉a ba giấy vay năm 2014.

Hiê ̣n chi ̣ không còn nợ ông CH tiền vi lý do : Ngày 5/6/2015 giữa chi ̣ và ông

̀

CH có ký biên bản thỏa Thuận đối trừ tiền vay bằng cách chuyển đổi ki ốt số 14, khu 4 chợ BS thông qua hợp đồng Thuê tài sản số 99 giữa ông CH vớ i Công ty giá trị của hợp đồng là 422.000.000đ. Viê ̣c này Công ty đồng ý bằng QĐ số 305/2015 của ĐHĐCĐ C ông ty chấp Thuận cho chi ̣ g iao di ̣ch vớ i ông CH. Sau khi ký biên bản thỏa Thuận số 99 thì chị chấm dứt hoàn toàn các nghĩa vụ với ôngCH.

- Đối với giấy vay tiền 07/10/2015 với số tiền 80.000.000đ (tám mươi triệu

đồng), chị và ông CH cũng đã ký biên bản thỏa Thuận để đối trừ tiền vay bằng cách chuyển đổi ki ốt số 15 khu 4 chợ BS thông qua hợp đồng Thuê tài sản số 14 ngày 08/10/2015 giữa ông CH với Công ty, với giá trị hợp đồng là 403.000.000đ, sau khi trừ khoản vay của chị L thì ông CH có trách nhiệm Th4 toán nốt cho Công ty số tiền chênh Lch còn thiếu trước khi nhận kiốt.

Hiện nay ông CH còn nợ Công ty CP Tư vấn Đầu tư xây dựng SA số tiền là

528.000.000đ.

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty CP Tư vấn Đầu tư xây dựng SA:

Xác định các khoản nợ trong 05 giấy vay nhận nợ nêu trên là của cá nhân chị L không liên quan gì đến Công ty, công ty không có trách nhiệm trả nợ cho chị L. Tuy nhiên Công ty cũng đã họp và đồng ý cho chị L thỏa Thuận để đối trừ tiền vay giữa chị L và ông CH, ông CH qua viê ̣c ông CH đã Thuê ki ốt của Công ty.

Anh Nguyễn Văn Th4 trình bày: Vào đầu năm 2014 ông có vay của ông Mai

Xuân CH số tiền là 80.000.000đồng. Mục đích là vay hộ Công ty CP Tư vấn Đầu tư xây dựng SA lúc đó ông đang làm việc tại Công ty. Việc vay tiền là do cá nhân ông đứng ra vay. Sau khi vay hộ cho Công ty thì ông đã yêu cầu Công ty Th4 toán lại cho ông số tiền này để ông trả cho ông CH. Lúc đó bà L đang là người đại diện theo pháp luật của Công ty, có nói với ông về việc chuyển khoản nợ này của ông với ông CH sang cho cá nhân bà L, bà L sẽ thay ông trả khoản nợ này cho ông CH. Ngày 09/7/2014 ông cùng bà L đã đến nhà ông CH để thỏa Thuận về việc chuyển giao khoản nợ. Bà L đã đồng ý nhận chuyển giao nghĩa vụ trả nợ số tiền là 80.000.000đồng của ông đối với ông CH và ông CH đã đồng ý về việc chuyển giao này. Bà L và ông CH đã viết giấy vay tiền thể hiện việc chuyển giao nghĩa vụ này, ông cũng ký vào làm chứng việc đó. Hiện nay ông CH khởi kiện bà L về việc Th4 toán các khoản nợ ngày 09/7/2014 có chữ ký của ông, khoản nợ này ông đã chuyển giao cho bà L, ông CH cũng đã đồng ý việc chuyển giao này. Do vậy ông không có nghĩa vụ gì đối với bà L và ông CH nữa.

Bà Trần Thị Th5 trình bày: Bà là vợ của ông Mai Xuân CH, bà có biết việc

chồng bà là ông CH cho chị L vay tiền nhiều lần, bà xác định là tiền riêng của ông CH, không phải là tài sản CH của vợ chồng, nên bà không có yêu cầu hay nghĩa vụ gì đối với ông CH cũng như chị L.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 04/2018/DSST ngày 24/5/2018 của Tòa án nhân

dân thị xã PY, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Xuân CH đối với chị Trần Thị

Tú L về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

1. Về tiền nợ gốc: Buộc chị Trần Thị Tú L phải có trách nhiệm trả cho ông

Mai Xuân CH số tiền nợ gốc là: 408.000.000đồng (bốn trăm linh tám triệu đồng chẵn).

2. Về tiền lãi suất: Buộc chị Trần Thị Tú L phải có trách nhiệm trả cho ông

Mai Xuân CH số tiền lãi là: 124.824.329 đồng (một trăm hai mươi bốn triệu tám trăm hai mươi bốn nghìn ba trăm hai mươi chín đồng). Chị L đã chuyển trả cho ông CH 36.000.000đồng (ba mươi sáu triệu) đồng tiền lãi. Nay chị L còn phải trả cho ông CH 88.824.329 đồng tiền lãi.

Tổng cộng chị L phải có trách nhiệm trả cho ông CH số tiền 496.824.329đ

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/5/2018, bị đơn chị L kháng cáo toàn bộ bản

án. Nội dung: Chị có ký vào 05 giấy vay tiền, tổng số tiền 408.0000.000đ như ông CH cung cấp, tuy nhiên số tiền này đa đượ̃

c đối trừ vào hợp đồng Th5ê kiốt của ông CH vớ i Công ty CP Tư vấn Đầu tư xây dựng SA, cụ thể hợp đồng số 99, ký ngày 5/6/2015 trị giá 422.000.000đ và hợp đồng số 14 ký ngày 8/10/2015 trị giá 403.000.000đ. Giấy vay tiền chi cỏ ́ mô ̣t bản ông CH giữ nên ông CH đa điền thêm̃ mô ̣t số nô ̣i dung vào giấy vay , như giấy vay ngày 5/6/2015 ghi thêm đến ngày 15/6/2015. Giấy vay ngày 7/10/2015 số 215 là số viết thêm sau gạch chéo . Về chủ thể giao di ̣ch, giấy vay ngày 10/11/2014 có đóng dấu của Công ty CP Tư vấn Đầu tư xây dựng SA, viê ̣c này có ủy quyền của Công ty cho chi ̣ vay tiền ông CH, về mă ̣t pháp lý Công ty được hưở ng quyền và nghia vu ̣ , tuy nhiên Tòa sơ thẩm lại

̃

buô ̣c cá nhân là không đúng . Về lai suẫ

́t , thực tế chi ̣ đa trã ̉ ông CH 55.000.000đ tiền lai chữ

́ không phải 36.000.000đ như bản án sơ thẩm tuyên.

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N

Sau khi nghiên cứu các tài liệu hiện có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện VKS, Hội đồng xét xử nhận định:

[1.]Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn chị L, kháng cáo trong hạn

luật định, đã nộp dự phí kháng cáo là hợp L được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị đơn chị L bổ sung yêu cầu

kháng cáo, đề nghị hủy bản án sơ thẩm do có vi phạm về thẩm quyền giải quyết.

[2.]Về nô ̣i dung: Nguyên đơn ông Mai Xuân CH khở i kiê ̣n chi ̣ Trần Tú L yêu

cầu chị L trả tiền vay 408.000.000đ và yêu cầu tính lãi suất theo quy định của pháp luâ ̣t. Khoản vay này ông CH trình bày, do chi ̣ L cần vốn kinh do anh nên ông đa ̃ cho chi ̣ L vay 5 lần và cả 5 lần chi ̣ L đều ký vào giấy vay với tư cách cá nhân . Từ khi chi ̣ L vay , chị L mớ i trả lai cho ông đượ̃

c 36.0000.000đ. Chứ ng cứ ông CH cung cấp là 05 giấy vay có chữ ký của chị L.

Bị đơn chị Trần Thị Tú L cũng xác nhận chị có vay tiền ông CH và chị là

người ký vào 05 giấy vay tiền do ông CH cung cấp cho Tòa án. Tuy nhiên các khoản vay của chị với ông CH, đa đượ̃

c đối trừ vào viê ̣c Công ty CP Tư vấn Đầu tư xây dựng SA, do chi ̣ là đa ̣i diê ̣n theo pháp luâ ̣t bằng viê ̣c năm 2015, ông CH ký hợp đồng Thuê hai ki ốt của Công ty . Sau khi đối trừ tiền chi ̣ vay của ông CH thì ông CH còn nợ Công ty Đầu tư xây dựng SA 528.000.000đ.

Theo lời khai của đương sự và tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hô ̣i đồng

xét xử thấy rằng , tại đơn khởi kiện ghi ngày 23/12/2016, có nội dung: Ngườ i khở i kiê ̣n Mai Xuân CH, HKTT…Tỉnh Thái Nguyên; Ngườ i bi ̣ kiê ̣n Trần Thị Tú L , “HKTT và nơi ở hiê ̣n tại tổ 1c, khu 8, phường NT, thành phố VT, tỉnh Phú Thọ” . Cũng ngày23/12/2016 ông CH có “Đơn đề nghị lựa cho ̣n Tòa án giái quyết”, nội dung: “Theo đơn khởi kiê ̣n thi chi ̣ L hiê ̣n nay ở tổ 1c, khu 8, phường NT, thành phố VT, Phú

̀ Thọ. Theo quy đi ̣nh tại điểm c, khoản 1, Điều 39/BLTTDS năm 2015 thì Thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND TP Viê ̣t Tri. Tuy nhiên HĐVTS nà y được tôi và chi ̣ L thực

̀

hiê ̣n ở tại nhàtôi Tổ dân phố ST, phường BS, thị xã PY, tỉnh Thái Nguyên . Căn cứ điểm g, khoản 1, Điều 40/BLTTDS năm 2015, thì tôi có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết…bằng văn bản này tôi đề nghị Tòa án nhân dân thị xã PY, huyện PY, tỉnh Thái Nguyên giải quyết…”.

Ông CH cung cấp 05 giấy vay nợ giữa ông và chi ̣ L, trong đó giấy 04 giấy vay

thể hiê ̣n ngườ i vay là Trần Tú L, cư trú phường NT, thành phố VT, Phú Thọ và01 giấy vay ngày10/11/2014 thể hiê ̣n ngườ i vay Trần Tú L - P. Tổng giám đốc và đóng dấu của Công ty cổ phần đầu tưSA, ký tên Trần Tú L. Trong các giấy vay trên không thể hiê ̣n nơi giao tiền và cũng không xác đi ̣nh đi ̣a điểm trả tiền. Mặt khác trụ sở của Công ty cổ phần đầu tưSA, tại TPVT tỉnh Phú Thọ. Đối tượng của hợp đồng được ký kết giưông CH và̃a chị L là tiền, trong giấy vay tiền không thể hiê ̣n nơi giao tiền và cũng không thể hiê ̣n đi ̣a điểm trả tiền. Do vâ ̣y tranh chấp giữa ông CH và chị L không Thuộc trường hợp mà nguyên đơn có quyền lựa cho ̣n Tòa án gia quyết theỏi

quy định tại điểm g, khoản1 Điều 40/BLTTDS năm2015. Trong trườ ng hợp này, Tòa án nhân dân thị xã PY phải căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 39 và điểm c khoản 3 Điều 191/BLTTDS năm 2015 chuyển đơn khở i kiê ̣ncủa nguyên đơn đến Tòa án nơi cư trú củabị đơn, đồng thờ i cũng là nơi có tru ̣ sở của Công ty cổ phần đầu tưSA giải quết. Việc Tòa án nhân dân thị xã PY thụ lý giải quyết theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông CH là vi phạm thẩm quyền.

Do có sự vi pha ̣m nghiêm tro ̣ng về thủ tục tố tụng, vi pha ̣m thẩm quyền giải quyết mà không thể khắc phục được. Nên cần phải hủy án sơ thẩm giao hồ sơ về Tòa án nhân dân thi ̣ xaPY, Thái Nguyên ̃

giải quyết theo quy định của pháp luật.

[3.] Về án phi: Đương sự phải chi ̣u án phi theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t .

́

́

[4.] Tại phiên tòa, đại diện VKS nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm:

Thẩm phán chủ tọa và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng tố tụng. Về đường lối giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm vi phạm về thẩm quyền giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận mô ̣t phần kháng cáo của nguyên đơn, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

Từ sự phân tích trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp du ̣ng khoản 3 Điều 308 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự ; Điều Điều 48 Nghị quyết

326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án, L phí Tòa án; Chấp nhận mô ̣t phần kháng cáo của bị đơn chị Trần Thị Tú L.

Tuyên xử:

1. Huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 04/2018/DSST ngày 24/5/2018 của Tòa án

nhân dân thị xã PY, Thái Nguyên.

Giao hồ sơ về Tòa án nhân dân dân thị xã PY, Thái Nguyên giải quyết lại theo

quy định của pháp luật.

2. Về án phí: Chị Trần Thị Tú L không phải chịu án phí phúc thẩm, được

hoàn lại 300.000đ dự phí phúc thẩm đã nộp, theo biên lai Th5 tiền số 0008631 ngày 25/6/2018 tại cơ quan thi hành án dân sự thị xã PY.

Án phí dân sự sơ thẩm được tính lại khi giải quyết ở cấp sơ thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành./.

Cỡ chữ